Điểm tham quan Khách sạn Nhà hàng Tour du lịch
Quảng cáo
Tiện ích
Thời tiết Vé máy bay
Tỷ giá Tàu hỏa
Hỗ trợ trực tuyến
Phòng nghiệp vụ
Hotline: 02303.835026
Điện thoại hỗ trợ
0983.639587-0976.176166-0166.979046
Thăm dò ý kiến

Bạn có biết gì về du lịch Điện Biên không?

Chưa từng biết

Biết nhiều

Biết ít

Không hề biết

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 28


Hôm nayHôm nay : 0

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 9280

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 344550

global html

              Điện Biên Mùa Hoa Ban

Những điều nên biết khi vào bản làng ở vùng Tây Bắc

Những điều nên biết khi vào bản làng ở vùng Tây Bắc Người dân bản làng ở vùng núi Tây Bắc rất thân thiện, cởi mở nhưng có nhiều phong tục cần kiêng kỵ. Nếu hiểu được những phong tục, tập quán của họ, chuyến đi của bạn càng thêm thú vị

 Ngày nay Tây Bắc nói chung và Điện Biên nói riêng đang ngày càng thu hút khách du lịch đến tham quan, tìm hiểu. Lên vùng cao Tây Bắc ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh thân thương, ấm áp và đẹp như mơ của những ngôi làng của đồng bào các dân tộc. Có những bản làng là điểm đến không thể thiếu không chỉ của du khách trong nước mà cả khách quốc tế mỗi khi sang thăm Việt Nam. Tuy nhiên, mỗi dân tộc lại có những phong tục tập quán, những điều kiêng kị khác nhau và đây cũng chính là điều tạo nên sự đa dạng, thu hút khách.
Người dân bản làng ở vùng núi Tây Bắc rất thân thiện, cởi mở nhưng có nhiều phong tục cần kiêng kỵ. Nếu hiểu được những phong tục, tập quán của họ, chuyến đi của bạn càng thêm thú vị. Dưới đây là một số lưu ý đối với du khách khi muốn đến thăm các bản làng dân tộc Tây Bắc nói chung hay các bản làng dân tộc tỉnh Điện Biên nói riêng:
1.Trang phục:
Khi vào thăm bản làng dân tộc ở vùng núi phía Bắc, bạn không nên mặc loại lanh trắng chưa nhuộm vì người dân tộc cho đó là màu sắc của tang lễ.
2. Khi tham quan bản làng:
Trên đường vào các làng bản dân tộc khi thấy một cánh cổng chào dựng tạm, phía trên buộc tua tủa những dao gỗ, kiếm gỗ , đầu cánh gà ...bạn không nên vào bởi đó là lúc trong làng đang tổ chức lễ cúng xua đuổi tà ma. 
Khi cúng, đồng bào đặt các dấu hiệu kiêng kỵ cấm người lạ vào làng như buộc chùm lá xanh ở cột cao trên đường vào làng hoặc đan phên mắt cáo, buộc vào đó xương hàm lợn, trâu, bò. Cả làng không ai đi làm, không cho người lạ vào làng. Nếu người lạ vô tình gồng gánh, đội nón, che ô, đeo gùi, ba lô... vào làng sẽ bị phạt bằng cách nộp đủ số lễ vật để làm lại lễ cúng làng. Trường hợp có việc khẩn cấp, muốn vào làng ngay, khách lạ phải bỏ mũ, ba lô, gồng gánh ... Tất cả đồ đạc đều phải xách tay. Như vậy mới mong được giảm hoặc miễn phạt.
Khi đến nhà, đi đường, khách cần chủ động chào hỏi bằng thái độ chân thành, nụ cười thật thà sẽ xoá đi mặc cảm bất đồng ngôn ngữ. Khi chia tay có thể bắt tay, không cần nói lời tạm biệt, hẹn gặp lại nhưng luôn nở nụ cười. Không xoa tay lên đầu trẻ em người Mông, Dao, Thái,... Vì theo quan niệm của họ, hồn người trú ngụ ở đầu, người lạ sờ vào, hồn hoảng sợ bỏ trốn, làm cho trrẻ hay bị ốm đau.
3.Vào nhà dân
Trước khi đến nhà người dân, việc đầu tiên phải quan sát xem ở trước cửa nhà, ở đầu cầu thang có cắm hoặc treo một cành lá xanh, một cành gai, tấm phên đan hình mắt cáo hay không. Nếu thấy những dấu hiệu đó, đừng nên bước chân vào nhà vì đó là dấu hiệu kiêng kỵ không muốn người lạ vào.
Với một số dân tộc như nhà người Hà Nhì Đen có hai lớp cửa, khách xa tới chỉ nên vào cửa thứ nhất. Nếu muốn vào cửa thứ hai thì phải được gia đình chủ đồng ý. Nhà người Thái thường có 2 đầu cầu thang, phụ nữ chỉ được lên cầu thang bên trái, không được lên cầu thang bên phải.  
Mỗi dân tộc có quan niệm khác nhau về vị trí chỗ ngồi. Vì vậy, cần lưu ý không ngồi vào một số vị trí đặc biệt. Chẳng hạn như ở vùng người Giáy, Dao, phía dãy ghế ở gần bàn thờ dành riêng cho người cao tuổi nhất, khách quý nhất. Đồng bào Mông khi bố mẹ mất, vị trí đầu bàn (gần bàn thờ) luôn bỏ trống với ý niệm nơi đó dành cho hồn bố mẹ. Nhà người Thái, Tày, Mường, nơi giáp cửa sổ, gia chủ đặt hai chén con có ý giành cho tổ tiên về tiếp khách, khách không ngồi ở vị trí đó. Ở vị trí quan trọng nhất trong nhà (vách nhà ở gian giữa hoặc góc đầu nhà sàn, là nơi thờ tổ tiên. Trang trí nơi thờ tổ tiên mỗi dân tộc có khác nhau, nhưng đều chung một quan niệm: Nơi thờ tổ tiên là chốn linh thiêng nhất. Khách không dược đặt mũ, nón, tư trang và đồ dùng khác ở nơi đó, không được sờ tay lên các đồ thờ cúng . Khi ngồi không được quay lưng vào nơi thờ. Ở vùng người Thái Đen, phụ nữ không được đến gian đầu ngồi nhà sàn- nơi thờ tổ tiên
Bếp lửa vừa là nơi nấu nướng vừa là nơi tiếp khách của đồng bào các dân tộc, đồng thời là nơi thiêng liêng thờ vua bếp, thần lửa. Do đó có nhiều kiêng kị liên quan đến bếp lửa, ngồi cạnh bếp lửa sưởi không đặt chân lên hoặc làm xê địch hòn đá kê làm kiềng, vì theo quan niện của một số dân tộc thì các hòn đá này là nơi trú ngụ của thần lửa . Khi đun nấu đồng bào Tày, Thái, Nùng, Giáy, Lào, Lự... đều chú ý đặt quay ninh, chảo, nồi lên bếp không được để hai quay nồi , chảo theo hương cây xà ngang (vì đó là hướng nằm của người chết) mà phải đặt theo hướng đòn nóc nhà. Ở vùng đồng bào Mông, Dao, Hà Nhì.... khi đưa củi vào bếp, không đưa ngọn vào trước, vì quan niện sợ con gái gia chủ sau này sẽ sinh ngược. Khi ngồi gần bếp, du khách không quay lưng và giẫm chân vào bếp. 
 Ở vùng người Thái, Tày, Kháng, La Ha, Phú Lá kiêng không đem lá xanh, cành cây xanh, rau xanh vào cửa chính. Đồng bào kiêng không huýt sáo ở trong nhà, vì nó là tín hiệu gọi ma tà, bão giông.
Trong ngôi nhà đồng bào dân tộc, cửa và cây cột chính là vị trí linh thiêng thờ thần cửa, thần cột cái. Vì vậy không nên ngồi bậu cửa hoặc treo mũ nón và tựa lưng vào cột cái. Nếu chủ nhà chưa mời không nên ngồi ngay vào đệm vì thường dành cho bề trên và khách quý
4. Chào hỏi
Bạn nên chủ động chào hỏi chủ nhà bằng thái độ chân thành. Khi chia tay có thể bắt tay, không cần nói lời tạm biệt nhưng hãy nhớ luôn nở nụ cười thân thiện. Cần tránh gọi các từ khiếm nhã như Mèo, Mán, mà nên gọi là đồng bào Mông, Dao. Bạn cũng không nên nói quá to với cử chỉ gay gắt.
5. Ăn uống
Trước khi ăn uống, cần kiên trì nghe gia chủ tiến hành các nghi lễ mời tổ tiên, chúc tụng những điều tốt lành. Khi ăn cơm nếu chủ nhà không mời thì không được ngồi ngang hàng với người già nhất trong mâm mà hãy tôn trọng sự sắp đặt vị trí ngồi của chủ nhà.Quan niệm về chỗ ngồi của mỗi dân tộc khác nhau. Với những người Giáy, Dao phía dãy ghế ở gần bàn thờ dành riêng cho người cao tuổi nhất, khách quý nhất. Người Thái, Tày, Mường  tùy thuộc vị trí đặt mâm cơm hoặc gần cửa sổ gia chủ đặt hai chén con có ý giành cho tổ tiên về tiếp khách, khách không ngồi ở vị trí đó.
Khi có người mời rượu, hoặc mời mọi người xung quanh mới được uống, không nên cầm ly uống ngay. Uống được bao nhiêu do khả năng của mình, bạn không nên từ chối và không dùng từ uống hết mà nên dùng uống cạn. Nhiều dân tộc quan niệm nếu dùng từ “uống hết” nghĩa là chủ và khách không còn tình cảm gì.
Bạn cũng không được rót rượu, gắp thức ăn trước chủ nhà. Đặc biệt, khi dùng cơm xong không được úp bát, chén xuống mâm, chỉ thầy cúng mới được phép làm như vậy để đuổi tà ma.
Khách ngồi uống rượu cần, giao lưu, chuyện trò cùng gia chủ không được vừa nói, vừa chỉ trỏ ngón tay ra phía trước. Người Mông cho rằng, hành vi đó là bày tỏ thái độ không bằng lòng hoặc coi thường người tiếp chuyện
 6. Khi ngủ
Bạn cần lưu ý chỗ ngủ tuân theo sự bố trí của gia chủ, không nằm để chân về phía bàn thờ. Ở một số vùng người Mông, Dao,Thái, La Ha, Kháng bà con kiêng không mắc màn màu trắng trong nhà.
 

Tác giả : Mai Hoa - Nguồn : Tổng hợp