Điểm tham quan Khách sạn Nhà hàng Tour du lịch
Quảng cáo
Tiện ích
Thời tiết Vé máy bay
Tỷ giá Tàu hỏa
Hỗ trợ trực tuyến
Phòng nghiệp vụ
Hotline: 02303.835026
Điện thoại hỗ trợ
0983.639587-0976.176166-0166.979046
Thăm dò ý kiến

Bạn có biết gì về du lịch Điện Biên không?

Chưa từng biết

Biết nhiều

Biết ít

Không hề biết

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 26

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 25


Hôm nayHôm nay : 82

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 10039

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 345309

global html

              Điện Biên Mùa Hoa Ban

Bộ tài liệu tham khảo

Chủ nhật - 18/09/2016 18:40
Để bài viết dự thi có chất lượng, Trung tâm TTXT Du lịch đăng tải bộ Tài liệu tham khảo về các điểm di tích. Lưu ý: Bộ tài liệu dùng để tham khảo phục vụ trong quá trình viết bài dự thi. Không được sao chép dưới mọi hình thức.


DI TÍCH ĐỒI A1 (ELIAN II)
 
Thưa quý khách! Chiến tranh đã lùi xa hơn 60 năm, trên mảnh đất Điện Biên Phủ không còn là trận địa với những hố bom, bãi mìn nữa. Nhưng những chứng tích của 1 thời “máu lửa” vẫn còn sống mãi cùng với thời gian. Đồi A1 đã chứng kiến biết bao thăng trầm của mảnh đất nơi đây. Cũng chính trên mảnh đất này đã thấm đẫm biết bao mồ hôi, xương máu của những người con ưu tú của cách mạng Việt Nam quyết hy sinh thân mình cho độc lập, tự do của quê hương đất nước. Nếu như chúng ta biết đến Quảng Trị với Thành Cổ là nơi diễn ra trận đánh ác liệt nhất và hy sinh nhiều nhất, Điện Biên Phủ có đồi A1. Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn biến với 56 ngày đêm thì trận đánh tại đồi A1 diễn biến với 39 ngày đêm. Trải qua 39 ngày đêm chiến đấu hơn 2.500 chiến sĩ của chúng ta đã hy sinh trên mảnh đất nơi đây. Mồ hôi, xương máu của các anh đã thấm đẫm từng tấc đất, từng ngọn cỏ trên đồi A1 này. Đến với A1 hôm nay xin đoàn chúng ta hãy: 
“Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi
A1 rộng sao đồng đội tôi nằm chật
Mỗi tấc đất là cuộc đời  có thật
Cho hôm nay tôi đến nghẹn ngào”!
Bây giờ mời đoàn chúng ta lên tham quan thực tế trên di tích!
          Tại vị trí lô cốt cây đa cụt
          Thưa quý khách! Cứ điểm A1 nằm ở vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, được coi là “cuống họng, chìa khóa sống” bảo vệ phân khu trung tâm, trực tiếp bảo vệ căn hầm của tướng De Castres. Tại đây quân Pháp bố trí lực lượng quân tinh nhuệ nhất: Tiểu đoàn 1 Trung đoàn số 4 Bộ binh Ma Rốc, quá trình diễn ra trận đánh, tướng De Castries lần lượt thay thế, bổ xung các đơn vị:Tiểu đoàn 1 bán Lữ đoàn Lê dương số 13, tiểu đoàn dù thuộc địa số 6, tiểu đoàn dù thuộc địa số 1. Ngoài ra địch còn sử dụng 3 tiểu đoàn khác làm lực lượng phản kích và pháo binh ở Mường Thanh, Hồng Cúm, hoả lực bắn thẳng ở cứ điểm A3, C2, không quân, xe tăng sẵn sàng chi viện cho cứ điểm A1. Tại đây  Pháp bố trí thành 3 hệ thống phòng tuyến:
Hệ thống phòng tuyến thứ nhất có “lô cốt cây đa cụt” bảo vệ cho tuyến đường lên đồi và đường viện binh từ Mường Thanh lên A1. Sở dĩ có tên “lô cốt cây đa cụt” là vì trước đây có cây đa rất lớn ở vị trí này, bên cạnh cây đa có đền thờ “Đức Thánh Trần”. Nhưng khi Pháp chiếm Điện Biên Phủ chúng đã cho chặt ngọn đa, phá dỡ đền thờ xây dựng lô cốt, thân cây còn lại giống thằng người nên ta gọi là “lô cốt cây đa cụt” hay “ụ thằng người”. Ở đây, Pháp xây dựng đường hào tiếp viện từ trung tâm Mường Thanh qua cứ điểm A3( vị trí bảo tàng bây giờ) lên đồi A1. Nhiệm vụ tiêu diệt “Ụ thằng người” và cắt đường hào tiếp viện của địch lên A1 được giao cho Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174, Đại đoàn 316. Trong 10 ngày đêm tiểu đoàn vừa chiến đấu, vừa xây dựng trận địa dưới tầm hoả lực của địch. Quân Pháp biết được ý định của chúng ta nên kìm kẹp ta dưới tầng hỏa lực từ 3 phía: A3 bắn lên, A1 bắn xuống, lô cốt cây đa cụt bắn thẳng. Có hôm địch đưa cả xe tăng và bộ binh tiến lên phản kích, tràn qua đội hình của tiểu đoàn, lấp cả đường hào của ta. Xong với quyết tâm tiêu diệt bằng được cứ điểm A1, trận địa tấn công của ta hướng thẳng vào ụ thằng người mỗi lúc một gần chỉ còn chờ thời cơ tiến thẳng vào lô cốt này. 20 giờ 30 phút ngày 06/5/1954 khi khối bộc phá 960kg nổ tung trên đỉnh đồi. Sau ít phút im lặng, quân địch từ trên cứ điểm A1, A3 và từ “ụ thằng người” bắn ra ác liệt, anh em trong tổ bộc phá của tiểu đoàn không tiến lên được. Trung đội trưởng bộc phá và 3 chiến sỹ hy sinh, 9 bộc phá viên bị thương. Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An lệnh cho Tiểu đoàn 251 phải nhanh chóng chiếm ụ thằng người, cắt đường tiếp viện của địch. Đại đội trưởng Lâm Viết Hữu mặc dù đang bị thương vào sống mũi, máu trào qua miệng vẫn lao qua tầm hoả lực của địch, tổ chức lại lực lượng, dùng hoả lực bắn chi viện cho tiểu đội bộc phá của đồng chí Trần Quý. Đến 1h30’ ngày 6/5/1954 tiểu đoàn 251 đã chiếm được “lô cốt cây đa cụt”, tiêu diệt gọn 1 trung đội địch, phá hỏng 3 trung liên, 1 đại liên, chặn đường tiếp viện của quân Pháp lên cứ điểm.
Bên cạnh là hệ thống đường hào tiếp viện của quân Pháp từ Trung tâm Mường Thanh vượt qua cứ điểm A3 (nay là Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ) qua cống con đường 41 (tên gọi trước đây của đường 7/5) lên cứ điểm A1. Đường  hào này được tôn tạo nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.
Giới thiệu với quý khách xung quanh cứ điểm A1 quân Pháp xây dựng hệ thống hàng rào dây thép gai với đủ loại hình dạng:  mái nhà, hàng rào cũi lợn, hàng rào lò xo với độ dày từ 50 đến 75m xen kẽ giữa những hàng rào này là các loại mìn.
Con đường lên đồi là đường phản kích của địch bằng xe tăng và các loại xe cơ giới lên xuống đồi. Ban đêm con đường này được khép lại bởi 1 hàng rào chắn cơ động.
Tại bia mũi tên phản kích
Xin giới thiệu với quý đoàn đây là hệ thống phòng tuyến thứ 2 tại cứ điểm này. Tại đây quân Pháp bố trí các loại hỏa lực mạnh: súng cối, DKZ, trọng liên,...nhằm chi viện cho tuyến ngoài và giữ vững hệ thống phòng tuyến thứ 3 trên đỉnh đồi. Một số biểu tượng trên mũi tên này là những phù hiệu lính dù tinh nhuệ nhất của quân đội viễn chinh Pháp, có đơn vị lịch sử  thành lập100 năm và chưa từng biết đến chiến bại. Nhưng đến với Điện Biên Phủ nói chung và A1 nói riêng, những đơn vị con cưng nước Pháp đã bị bại trận tại đây.
 Tại chữ A1 (Dừng cho khách chụp ảnh và giới thiệu về tên A1).
Thưa quý khách! Tên A1 là tên quân đội  ta đặt cho ngọn đồi này, còn trước đây ngọn đồi này có những tên gọi khác nhau: Thời kỳ xung đột giữa các chúa đất ngọn đồi này có tên là đồi Lạng Chượng- một câu chuyện buồn giữa 1 bên hiếu – 1 bên tình của nàng Ho Quảng và chàng Lạng Chượng. Sau này Pháp chiếm Điện Biên Phủ (1890, 1945) chúng đều chọn ngọn đồi này xây dựng khu đồn trú nên được gọi là đồi Đồn Tây. Năm 1953, một lần nữa Pháp chiếm đóng Điện Biên Phủ chúng đã đặt tên ngọn đồi này là Eliane 2 – tên 1 người đẹp nước Pháp với mục đích động viên binh lính Pháp phải bảo vệ cứ điểm này như bảo vệ người đẹp của chúng.
 Giới thiệu xe tăng
Xin giới thiệu với quý khách! Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Thực dân Pháp được Mỹ viện trợ lên đến 73% tổng chi phí chiến tranh ở Đông Dương. Pháp được viện trợ nhiều loại vũ khí lớn và hiện đại trong đó có 10 chiếc xe tăng 16- 18 tấn. Được người Pháp vận chuyển lên Điện Biên Phủ bằng cách tháo rời từng bộ phận, đưa lên máy  bay rồi thả xuống lắp rắp tại sân bay Mường Thanh. De Castries đã bố trí một kíp công binh 25 người 3 ngày lắp xong 1 xe tăng. De Castries đã cho 2 chiếc xe tăng lên đồi A1 để phản kích, sau khi chiếc xe tăng này bị bắn cháy thì chiếc xe tăng còn lại đã bỏ chạy về trung tâm Mường Thanh. Đây là xác chiếc xe tăng Bazeille – mang tên làng anh hùng trong cuộc chiến tranh Pháp – Phổ với mục đích động viên lính Pháp phải có tinh thần anh dũng, quả cảm như các anh hùng xứ An- Đéc- Xen đó. Tuy nhiên chiếc xe tăng này đã bị 4 chiến sĩ của chúng ta bắn cháy vào rạng sáng ngày 1/4/1954.
 Giới thiệu về ngôi mộ tập thể
Bên cạnh là ngôi mộ tập thể của 4 chiến sĩ đã bắn cháy chiếc xe tăng của địch. Khi Pháp cho xe tăng điên cuồng phản kích trên cứ điểm A1, các chiến sĩ đã chiến đấu rất anh dũng, dùng súng Bazoka tiêu diệt chiếc xe tăng này. Chiếc xe tăng bốc cháy quân Pháp mất hẳn hàng rào bảo vệ trên hệ thống phòng tuyến thứ 3, nhưng đồng thời 4 chiến sĩ  đã mãi mãi ra đi. Các anh hy sinh nhưng “không để dòng tên họ
Không năm sinh, không để dấu thôn làng
Như tất cả cuộn thành tiếng nổ
Ném vào hầm ngầm, ụ súng, xe tăng”
 Sau ngày giải phóng, năm 1994 chúng ta cất mộ đưa về nghĩa trang liệt sĩ A1 thì phát hiện có 4 bộ hài cốt bên cạnh chiếc xe tăng nên đã quyết định không đưa về nghĩa trang nữa mà đành để 4 bộ hài cốt vào 1 ngôi mộ lớn và được xây như hiện nay. Ngôi mộ tập thể này cùng các nghĩa trang liệt sĩ ở Điện Biên Phủ đều có điểm chung đó là chưa thể khắc trên bia mộ tên họ các anh vì bị “lạc” mất tên trong quá trình chiến đấu và hy sinh mà trước đây chúng ta vẫn thường gọi là những ngôi mộ liệt sĩ vô danh. Nhưng “xin đừng gọi anh là liệt sĩ vô danh
Anh từng có tên như bao khuôn mặt khác
Mẹ sinh anh tròn ngày chẵn tháng
Cha đặt tên anh chọn tuổi, chọn mùa
Anh nhận ra lưỡi cày, lưỡi hái
Vẹt mòn trong nắng trong mưa!...
…Xin đừng gọi anh là liệt sĩ vô danh
Anh từng có tên như bao khuôn mặt khác
Chiến trường gần, chiến trường xa đuổi giặc
Tên làng, tên đất theo anh.
Bình yên sau cuộc chiến tranh
Anh trở về không tên, không tuổi
Trắng hàng bia những ngôi sao không nói
Rưng rưng cỏ mọc dưới chân.”
Đó cũng chính là điều trăn trở của rất nhiều thế hệ, đặc biệt là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Mỗi lần Đại tướng Võ Nguyên Giáp về thăm Điện Biên Người thường đứng lặng trước những ngôi mộ trắng bia, đôi mắt Người lại đỏ hoe vì thương đồng đội, chiến sĩ còn nằm lại dưới lòng đất Mẹ khi tuổi đời còn rất trẻ. Chúng ta hãy thắp nén hương để tưởng nhớ đến các anh, cầu mong cho linh hồn các chiến sĩ được yên giấc ngàn thu cùng non sông đất nước.
Giới thiệu căn hầm cố thủ: Căn hầm này là một hầm ngầm đào sâu vào đồi, vốn là hầm rượu vang của toà công sứ Pháp trước năm 1945. Có tài liệu viết căn hầm này là hầm Bưu điện của Pháp thời còn Châu Điện Biên. Ngày 20/11/1953 quân Pháp nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ đã cho củng cố căn hầm ngầm thành một cứ điểm quân sự. Diện tích hầm khoảng 18m2 và được chia thành 2 ngăn, trong đó một ngăn là nơi làm việc của bộ phận thông tin điện đài. Hầm được làm bằng những vật liệu vô cùng chắc chắn bốn bên là tường gạch kiên cố, mái hầm được đổ những lớp bê tông dày, khi cần thiết có thể dùng làm nơi ẩn nấp cho hàng chục người. Sở dĩ chiến sự tại đồi A1 kéo dài, ta tổn thất khá nhiều lực lượng là do địch dựa vào hầm ngầm này và hệ thống hỏa lực bảo vệ hầm ngăn cản các bước tiến công của các chiến sĩ ta. Hiện nay, hầm được tôn tạo lại bằng những vật liệu bền vững hơn và trong hầm được trưng bày một số Manơcanh về các sĩ quan chỉ huy, các quân tư trang của quân Pháp.
Giới thiệu đường hào có nắp của quân Pháp.
 Đường hào dài 92m (gần cửa hầm cố thủ). Đường hào này có 3 cửa: Một cửa thông với đường hào tiếp viện lên đồi, một cửa thông với hầm ngầm cố thủ, một cửa thông với đường hào ra hầm đại liên. Khi khôi phục lại đường hào này (năm 2004) chúng ta còn thấy nhiều cây gỗ chống và lát hầm trước đây cùng nhiều thùng đạn, dây điện, pin, nhiều dụng cụ sinh hoạt của quân Pháp.
(Đưa khách xuống đường hào có nắp, đi lên trên đỉnh căn hầm cố thủ)
Đoàn chúng ta đang đứng trên vị trí cao nhất của ngọn đồi A1. Đứng trên cứ điểm này quân Pháp có thể bao quát được các cứ điểm trong Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được chia làm 3 phân khu: Phân khu Bắc gồm cứ điểm Độc Lập và Bản Kéo. Phân khu nam là phân khu Hồng Cúm cách trung tâm Điện Biên Phủ khoảng  6km, ở đây có 1 sân bay dự bị  đó là sân bay Hồng Cúm. Phân khu trung tâm bao gồm các cứ điểm nằm trên 5 ngọn đồi phía đông: A1, C1, C2, D1, E1 tạo thành “bức tường thành vững chắc” che chở cho phân khu trung tâm, ngoài ra còn có các cứ điểm nằm xung quanh căn hầm của tướng De Castries, xung quanh sân bay Mường Thanh.  Mọi con đường vào Điện Biên Phủ lúc bấy giờ đều được bịt kín bởi lưới lửa và thép gai. Tại cứ điểm A1, ngoài 3 hệ thống phòng tuyến, xung quanh đồi Pháp còn cho xây dựng những hệ thống giao thông hào phức tạp nối liền giữa các tuyến và lô cốt xung quanh, với hệ thống công sự chìm nổi như vậy quân Pháp có thể tấn công và rút lui bất cứ lúc nào. Ngoài ra bên sườn đồi, Pháp còn đặt những thùng đựng Etxăng khô 40 lít – 1 loại NaPan cô đặc, tự bùng cháy bằng điện có thể thiêu đốt đối phương ngay từ ngoài tuyến tiền duyên. Về phía ta, nhận định đồi A1 ở vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất trong dãy đồi phía đông. Nếu như ta tiêu diệt được cứ điểm này thì phân khu trung tâm không còn đủ sức chống đỡ và Tập đoàn cứ điểm cũng bị uy hiếp nghiêm trọng. Vì vậy quân Pháp quyết giữ bằng mọi giá thì ta quyết giành giật tới cùng. Tại cứ điểm A1, hai trung đoàn của ta là trung đoàn 102 của đại đoàn 308 do trung đoàn trưởng Nguyễn Hùng Sinh và trung đoàn 174 của đại đoàn 316  do trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An chỉ huy đã phối hợp và thay nhau chiến đấu trên đồi A1 trong suốt 39 ngày đêm. Trải qua 39 ngày đêm chiến đấu ta đã tổ chức 4 đợt tấn công, 1 đợt phòng ngự và đánh lui 30 đợt phản kích của địch.
Đợt tấn công thứ 1 của chúng ta diễn ra vào 17h chiều ngày 30/3/1954. Sau khi các cỡ pháo của ta dồn dập nã vào các cứ điểm của dãy đồi phía đông trong đó có ngọn đồi A1. Trung đoàn 174 chia làm 2 mũi tấn công bắt đầu đột kích từ đồi Cháy và đồi F vào cứ điểm. Đồi F thấp hơn đồi A1 nên chịu hỏa lực bắn thẳng của địch từ trên đỉnh đồi xuống nên ngọn đồi này còn có tên gọi khác là đồi “tử địa”. Từ 2 trận địa này chúng ta tấn công sang đồi A1. Đến gần nửa đêm ta đã chiếm được 2/3 ngọn đồi. Sáng ngày 31/3/1954 Pháp cho quân dù, xe tăng, pháo binh, không quân địch nhiều lần phản kích, bắn trả về phía ta, chúng ta buộc phải lui 20m xuống sườn thấp giữ phần cứ điểm đã chiếm được. Nhận thấy Trung đoàn 174 không còn đủ sức tiến công tiếp tục lên A1. Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh Đại đoàn 316 tạm ngừng cuộc tiến công và lệnh cho trung đoàn 174 bàn giao trận địa lại cho Trung đoàn 102 Đại đoàn 308. Trung đoàn 174 phải lui về tuyến hào ngay phía trên cửa mở tổ chức phòng ngự, giữ 1/3 cứ điểm. Ngày 31/3, Đại đội 924, Tiểu đoàn 255 ba lần đánh phản kích, giữ vững trận địa.
Đợt tấn công thứ 2:  Đêm 31/3/1954.
Trung đoàn 102 Đại đoàn 308 do Trung đoàn trưởng Nguyễn Hùng Sinh chỉ huy được lệnh vào chiến đấu, các phân đội còn lại của Trung đoàn 174 nằm trong đội hình Trung đoàn 102, lúc này địch cũng đã đưa tiểu đoàn dù số 6 lên thay thế Tiểu đoàn 1 Trung đoàn bộ binh Ma Rốc bị đánh thiệt hại trong đêm hôm trước. 24 giờ ngày 31/3, Trung đoàn 102 đánh tới hầm cố thủ, điểm hoả bộc phá, diệt 20 tên thu nhiều trung liên, một máy vô tuyến điện. 2 giờ sáng ngày 01/4, Pháp điều hơn 100 quân từ Mường Thanh tiến lên phản kích, pháo của chúng bắn trùm lên mặt đồi gây sát thương quân ta, đẩy quân ta về gần cửa mở. Cuộc chiến đấu ở đồi A1 vẫn diễn ra rất ác liệt, nhiều trận xung phong và phản xung phong diễn ra liên tiếp. Đến 5 giờ cùng ngày, xe tăng, bộ binh của quân Pháp lại tiếp tục oanh tạc lên mặt đồi. Cuộc chiến đấu giằng co ác liệt, cuối cùng mỗi bên chiếm nửa điểm cao, ta chiếm sườn đông, quân Pháp chiếm sườn Tây.
Đợt tấn công thứ 3: đêm 1/4/1954
Trưa ngày 01/4 Trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 Nguyễn Hùng Sinh vào cửa mở trực tiếp chỉ huy và cùng với Đại đội trưởng Trọng Thành có lúc chiến đấu như một chiến sĩ, sử dụng nhiều loại vũ khí tiêu diệt nhiều quân Pháp, anh bị thương nhưng vẫn giữ vững trận địa. Cuộc chiến đấu của quân ta rất dũng cảm và quyết liệt. Có thể nói trong lịch sử chiến đấu của đại đoàn 308 đến lúc đó chưa có một trận nào đánh đồn mà tình hình diễn biến quyết liệt như vậy. Nhờ có tinh thần chiến đấu dũng cảm của cán bộ chiến sĩ và trung đoàn trưởng nên đã đánh tan được các đợt xung phong của địch và khôi phục được trận địa của ta đêm 31/3. Tại cứ điểm A1 lúc này, địch đã phải rút hết quân tại các cứ điểm, dồn về cứu viện cho A1 bằng mọi giá. Các chiến sĩ của ta đã giành giật với địch từng tấc đất. Sau 3 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, ta còn nhiều khó khăn chưa giải quyết dứt điểm, Lực lượng ta mỏng dần. Mặc dù Trung đoàn 102 cố gắng hết sức suốt hai ngày đêm, tình hình vẫn không thay đổi. Địch vẫn chiếm 2/3 cứ điểm. Cho đến lúc được lệnh của Bộ Chỉ huy mặt trận bàn giao nhiệm vụ lại cho Đại đoàn 316, Trung đoàn 102 chỉ còn lưa thưa vài đại đội không nguyên vẹn. Con số thương vong của Trung đoàn là 840 trong quân số hơn 1000 cán bộ, chiến sỹ toàn Trung đoàn. Hầu hết chiến sỹ được rèn luyện, bồi dưỡng từ bao năm trước, có chất lượng chiến đấu tốt đã bị thương. Một số không ít đã vĩnh viễn ra đi. Trong khi đó nhiệm vụ trước mắt của chiến dịch còn rất nặng nề. Trung đoàn 102 được lệnh rút quân trao lại trận địa cho Trung đoàn 174.
Đợt phòng ngự giữ phần cứ điểm:
Sau các đợt tấn công liên tiếp ta bước vào đợt phòng ngự với nhiệm vụ đánh địch phản kích, giữ vững cứ điểm đã chiếm được. Tiểu đoàn 255 của Trung đoàn 174 được giao nhiệm vụ giữ vững trận địa trên đồi A1. Cuộc chiến đấu giằng co với quân Pháp rất ác liệt bằng các trận chống phản kích, tập kích, bắn tỉa, đoạt dù… tiêu hao sinh lực địch, ta giành giật với địch từng tấc đất, từng mét chiến hào, giữ vững non nửa quả đồi.
Trong đợt phòng ngự chúng ta đã họp rút kinh nghiệm trận đánh vừa qua và nêu cách đánh sắp tới. Khó khăn lớn nhất của ta đồng thời cũng là điểm mấu chốt của cứ điểm là một hầm ngầm bí mật, làm tốn khá nhiều sức lực và xương máu của bộ đội ta. Việc xác định vị trí hầm và việc áp sát tiêu diệt là khó khả thi trong điều kiện địch đã tập trung binh, hỏa lực mạnh nhất về đây hòng chiếm lại những vị trí đã mất. Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ đã có những tính toán kiên quyết để tiêu diệt bằng được căn hầm này. Một kế hoạch “Lấy hầm trị hầm” được vạch ra, có tính chất quyết định tiêu diệt cứ điểm này.
Để tiêu diệt hầm chỉ huy cố thủ cứ điểm A1 ta bắt đầu triển khai việc đào đường hầm để đưa thuốc nổ vào đặt dưới chân hầm ngầm của địch, từ ngày 20/4 đến 04/5 năm 1954 đội công binh M83 được Tiểu đoàn 255 bảo vệ và hỗ trợ đã đào một đường hầm ngầm dưới đất dài 33m và một ngách  ở cuối đường hầm mỗi chiều 1,5m để chứa thuốc nổ. Đất đồi A1 rắn như đá non, dưới sự canh phòng, giám sát cẩn mật của địch nên việc đào hầm gặp rất nhiều khó khăn nhưng với tinh thần chiến đấu rất cao, anh em không quản vất vả, hy sinh cùng Tiểu đội trưởng Lưu Viết Thoảng phát huy sáng kiến trong quá trình đào đường hầm hoàn thành nhiệm vụ.
Đợt tấn công thứ 4: tối ngày 06/5/1954 đến sáng ngày 07/5/1954.
20 giờ 30 phút ngày 06/5/1954 đội trưởng Nguyễn Phú Xuyên Khung cùng 2 đồng chí Nguyễn Bạch và Nguyễn Điệt điểm hoả khối bộc phá. Một ánh chớp loé sáng, kèm theo tiếng nổ trầm, đục rung chuyển ngọn đồi, một cột khói bốc cao, sức nổ đã phá huỷ một số lô cốt, chiến hào, diệt một phần đại đội dù số 2 của địch, làm địch choáng váng. Chớp thời cơ quân ta bỏ qua các ụ súng khác, đánh thẳng vào Sở chỉ huy địch trên đỉnh đồi. Tại đây phần lớn các chiến sỹ trong đội xung kích thứ nhất cũng lần lượt hy sinh. Tiểu đoàn phó Lê Sơn xốc lại đội hình, dồn lên tiến công chiếm Sở chỉ huy địch vào khoảng 22 giờ đêm ngày 06/5/1954. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 Nguyễn Hữu An di chuyển Sở chỉ huy vào hầm kiên cố của cứ điểm, trực tiếp chỉ huy chiến đấu.
Ở phía Tây Nam, Tiểu đoàn  251 tiến đánh lô cốt “cây đa cụt” vào 20 giờ 30 phút . Hỏa lực địch bố trí bí mật bên ngoài, gây sát thương quân ta; tiểu đội bộc phá xung phong tiêu diệt ụ súng máy. Ta đánh chiếm được lô cốt “cây đa cụt” lúc nửa đêm diệt tại chỗ hơn hai mươi tên địch. Đại đội 673 chiếm đường hào bí mật của địch, đẩy lùi gần 100 tên lính dù từ Mường Thanh đến, chặn đứng quân tiếp viện cho A1. Đại đội 674 do Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 251 trực tiếp chỉ huy diệt các lô cốt còn lại ở phía Tây rồi chia làm 2 mũi cùng đánh vào vùng sau lưng địch. Trên đỉnh đồi, khi hầm chỉ huy thất thủ địch rút chạy về phía trận địa súng cối, cách hầm chỉ huy 20m về phía Tây kháng cự quyết liệt. Đại đội 316 được lệnh đánh vào hướng Đông Nam. Đại đội dù số 2 của quân Pháp kháng cự quyết liệt. Đại đội trưởng 316 Trương Duyên, cùng Đại đội phó và 1/3 đại đội đã hy sinh. Chính trị viên đại đội Hồng Giang trực tiếp chỉ huy chiến đấu. Khoảng 1 giờ 30 phút ngày 07/5 Đại đội 316 tiêu diệt lực lượng còn lại của Đại đội dù số 2. Tổ xung kích của Tiểu đội phó Trần Duy bắt viên Đại uý chỉ huy Ét-nơ. Đại đội 315 Tiểu đoàn 249 do Đại đội trưởng Nguyễn Hải Bằng chỉ huy được lệnh vào chiến đấu theo hướng Tây Bắc cứ điểm. Tiểu đoàn 251 phối hợp tiến công từ phía Tây Nam. Các đơn vị trên, cùng khép chặt 2 gọng kìm Đông và Tây Nam. Khoảng 3 giờ sáng ngày 07/5, Đại đội 315 đã tiêu diệt ổ đề kháng cuối cùng, bắt toàn bộ lực lượng còn lại của tiểu đoàn dù thuộc địa số 1, trong đó có viên đại uý Pu - giê chỉ huy cứ điểm và 34 lính dù.
Trận chiến đấu tại cứ điểm A1 kết thúc lúc 4 giờ 30 phút ngày 07/5/1954. Sau 8 tiếng đồng hồ của đợt tiến công thứ 4, Trung đoàn 174 đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm A1. Qua 39 ngày đêm ta đã loại 4 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn cơ động của địch, diệt 825 tên địch.
A1- “chìa khóa” của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã hoàn toàn bị phá vỡ. giải phóng được cứ điểm này tạo bàn đạp cho chúng ta tấn công sang hầm De Casteries bắt sống Y cùng toàn bộ bộ chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Bây giờ mời đoàn chúng ta xuống tham quan thực tế đường hầm đặt bộc phá và hố nổ do khối bộc phá tạo thành.
(Đứng ở vị trí gần bia giành giật)
Xin giới thiệu với quý khách đây là cửa và đường hầm ngày đó được đào để đặt khối bộc phá 960 kg do 1 đội đặc biệt gồm 25 cán bộ dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Phú Xuyên Khung  thực hiện, có sự hỗ trợ, bảo vệ của Tiểu đoàn 255. Có thể nói việc đào đường hầm xuyên dưới đất rắn vào tận hang ổ địch là một kỳ công, các chiến sĩ ta đã đổ biết bao xương máu vì đạn địch. Ngày 20/4/1954 Đội công binh M83 được lệnh đào hầm. Đêm đầu tiên đội chọn 3 đồng chí khoẻ nhất là Lưu Viết Thoảng, Nguyễn Bạch, Nguyên Văn Khối từ 1 vách hào cụt lên khoét cửa hầm. Khi khoét vào mỗi bề được 90cm thì đồng chí Trung đội trưởng bộ binh đứng yểm trợ bị một viên đạn trúng ngực đã hy sinh anh dũng. Đêm thứ 2, 12 chiến sĩ chia làm 4 tổ thay phiên nhau mở tiếp đường hầm dưới các làn đạn bắn và lựu đạn của địch đường hầm chỉ mở sâu thêm được 80cm. Những ngày sau năng xuất có khá hơn nhưng càng vào sâu càng thiếu dưỡng khí nên chỉ bố trí một người đào, còn một người bên cạnh ra sức quạt, ở phía ngoài 2 đến 3 người nối theo nhau dùng quạt nan quạt không khí vào. Mỗi tổ chỉ đào được nửa tiếng đã phải thay ca. Càng vào sâu đất moi ra càng nhiều, đổ ra ngoài sợ bị lộ nên đã phải dùng túi dù đựng đất để chuyển sang bên đồi Cháy hoặc đắp thêm vào các bờ công sự để tránh bị lộ; càng vào sâu tim hầm càng không thẳng, bộ đội ta đã có sáng kiến dùng chiếc đèn Sô-lếch xách tay đặt chuẩn ở cửa hầm để chiếu sáng và chỉnh hướng. Trong khi đào hầm các chiến sĩ đã phát hiện có tiếng động như tiếng giày của địch đi phía trên hầm. Để đề phòng địch phát hiện phá đường hầm, ta lại có sáng kiến đào thêm một ngách râu tôm sang hướng khác và cử một đồng chí chuyên ngồi gõ xẻng tạo tiếng động, đánh lạc hướng địch.
Đêm 04/5/1954, sau 15 ngày đêm gian khổ các chiến sĩ đã đào được 33m hầm ngầm và được lệnh dừng lại. Tại cuối đường hầm ta đã đào thêm một đường ngách hình chuôi vồ để đặt 1 khối thuốc nổ trọng lượng 960 kg. Khối thuốc nổ ấy ta chỉ được cấp 1 phần (khoảng 200kg), số còn lại các chiến sĩ đã tháo gỡ từ những quả bom chưa nổ của địch từ các nơi khác chuyển về, 1 công việc hết sức nguy hiểm. Khi mọi việc đã chuẩn bị xong, đúng 20 giờ 30 phút ngày 06/5/1954 khối bộc phá đã được giật nổ, quân ta từ các hướng tiến lên tiêu diệt toàn bộ cứ điểm A1.
 Căn hầm chỉ huy của Đại đội trưởng Đại đội 674 Lâm Viết Hữu nằm phía Tây Nam đồi A1, nơi đồng chí đã chỉ huy đơn vị chiến đấu và tiêu diệt chiếc xe tăng mà quý khách vừa tham quan.
Bức phù điêu ở hướng Đông là khu vực giành giật giữa ta và địch suốt từ ngày 03/4/1954 đến ngày 06/5/1954.
Trước mắt chúng ta là 1 trong 37 lô cốt của địch đã được khôi phục lại. Kết cấu đều bằng gỗ, đất và bao cát. Dọc theo đường hào có các hố bắn, hàm ếch và các hốc để đựng đạn
Phía Đông ngọn đồi là căn hầm của đồng chí Trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 Đại đoàn 308 Nguyễn Hùng Sinh, đơn vị đã thay Trung đoàn 174 Đại đoàn 316 của đồng chí Nguyễn Hữu An tiến công lên cứ điểm A1 lần thứ 2 vào ngày 02/4/1954. Tại đây Trung đoàn trưởng Nguyễn Hùng Sinh vừa chỉ huy vừa chiến đấu như một chiến sĩ. Đã có lúc trận đánh diễn ra ác liệt đồng chí Nguyễn Hùng Sinh bị thương và mất liên lạc với Ban chỉ huy Đại đoàn 308. Chính đồng chí Chu Văn Mùi đã tìm thấy đồng chí Nguyễn Hùng Sinh đang bị thương trong căn hầm này. Đồng chí Chu Văn Mùi cũng là người xác định vị trí, kích thước và kể lại bối cảnh khi gặp lại đồng chí Nguyễn Hùng Sinh để phục dựng và trưng bày lại căn hầm này.
Giới thiệu đường hào tấn công của quân đội ta từ Đồi Cháy sang A1.
Di tích A1, sau ngày giải phóng đã được nhiều lần tu bổ, tôn tạo chống xuống cấp. Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước điểm di tích này cùng với các điểm di tích khác trong Di tích lịch sử Chiến trường Điện Biên Phủ đã được đầu tư bảo tồn tôn tạo. Tại di tích này chúng ta đã tu bổ khôi phục lại một số hạng mục tiêu biểu gồm: Hầm chỉ huy và hầm đại liên trên đỉnh đồi; lô cốt cây đa cụt và 10 lô cốt khác trong tổng số 37 lô cốt của địch; 2 hầm chỉ huy của ta; hố bộc phá, đường hầm đặt khối bộc phá; 1.030m đường hào lộ thiên và 92m đường hào có nắp trong tổng số gần 4.000m đường hào của địch; 52m đường hào tiến công chiến đấu của ta; 7.155m2 hàng rào và 400m đường phản kích của địch. Tại một số hầm của ta và của địch có trưng bày một số hiện vật, Ma nơ canh lính nhằm phần nào tái hiện một cách sinh động trận chiến lịch sử tại đây.
Trong đợt trùng tu, tôn tạo năm 2004 đã tìm thấy hài cốt của 33 chiến sĩ trong đó có nhiều chiến sĩ hy sinh trong tư thế chiến đấu, tay ôm súng, xung quanh còn hàng chục quả lựu đạn. Có những kỷ vật nằm cùng các chiến sỹ trong lòng đất như gương, lược, … rất tiếc do hoàn cảnh lúc bấy giờ nên ta không biết tên tuổi, quê hương đơn vị của các anh. Đảng bộ và chính quyền địa phương đã làm lễ truy điệu trọng thể và đưa hài cốt các anh về nơi an nghỉ vĩnh hằng cùng đồng đội tại nghĩa trang Độc Lập.



 
THUYẾT MINH NHÀ TRƯNG BÀY BẢO TÀNG
CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ
 
Kính thưa các vị đại biểu cùng toàn thể quý khách:
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đi qua nhưng dư âm của nó vẫn còn vang vọng mãi trong những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam và khắc sâu trong lịch sử nhân loại, một mốc son chói lọi bằng vàng cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Nhân dân Việt Nam.
“Chín năm làm một Điện Biên
Lên vành hoa đỏ, lên thiên sử vàng”
Hướng tới kỉ niệm 60 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 – 7/5/2014), đồng thời tri ân những người con đã chiến đấu tại mảnh đất Điện Biên năm xưa và tôn vinh Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đã đầu tư kinh phí để xây dựng công trình Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.
Công trình Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ được thiết kế theo hình chiếc mũ nan lưới của chiến sỹ Điện Biên năm xưa. Hiện nay bảo tàng có trưng bày gần 1.000 hiện vật và hình ảnh nhằm tái hiện lại phần nào về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.
Theo đề cương trưng bày, hạng mục trưng bày trong nhà có 5 phần:
Phần I: Sơ lược về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tháng 9/1945 – tháng 9/1953.
Phần II: Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Phần III: Sự giúp đỡ của nhân dân thế giới đối với chiến dịch Điện Biên Phủ.
Phần IV: Tác động của chiến thắng Điện Biên Phủ.
Phần V: Phòng Tôn Vinh.
Kính thưa các vị đại biểu cùng toàn thể quý khách:
Để có một Điện Biên hòa bình, hội nhập và phát triển như ngày hôm nay, biết bao thế hệ cha anh đã không tiếc máu xương chiến đấu với quân thù giành lại chủ quyền cho mảnh đất nơi cực Tây Bắc của tổ quốc cùng với tài thao lược quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ta hãy ngược dòng lịch sử về với Việt Bắc cách đây 61 năm về trước, nơi khởi nguồn của Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Phần I: Sơ lược cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp
Giới thiệu với quý khách, trước mặt chúng ta là ngôi lán làm việc của Bộ chính trị tại Tỉn Keo, Định Hóa, Thái Nguyên. Trong căn lán nhỏ, đơn sơ tại chiến khu Việt Bắc – Nơi được mệnh danh là Thủ đô kháng chiến đã diễn ra nhiều cuộc họp mang tính chất quyết định cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đặc biệt, ngày 6/12/1953  Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì cuộc họp Bộ Chính trị, nghe Tổng quân ủy báo cáo quyết tâm và kế hoạch tấn công Điện Biên Phủ. Trong lán là cụm tượng thể hiện cuộc họp quan trọng này gồm: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đ/c Trường Chinh (Bên trái Bác Hồ), Đ/c Phạm Văn Đồng (Bên phải Bác Hồ). Tại cuộc họp này đã quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến, chiến lược đồng thời thành lập Đảng ủy và Bộ chỉ huy mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp làm Bí thư kiêm Chỉ huy trưởng mặt trận.
Giới thiệu với quý khách bức ảnh chụp lại cuộc gặp mặt giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào đầu tháng 1/1954, trước khi lên đường tham gia chiến dịch Đại tướng có đến xin chỉ thị của Bác Hồ. Tại cuộc gặp này Bác Hồ đã ân cần căn dặn Đại tướng: “Tổng tư lệnh ra mặt trận, Tướng quân tại ngoại. trao cho chú toàn quyền quyết định. Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Trải qua 56 ngày đêm: “Khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt. Máu trộn bùn non, gan không núng, trí không mòn” quân và dân ta đã làm nên một chiến thắng “Lừng lẫy năm châu, trấn động địa cầu”.
Mời quý khách tham quan tiếp:
   Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam nhất tề đứng dậy tiến hành Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 và đã giành được chính quyền trong cả nước chỉ trong 15 ngày (14-28/8/1945).
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh  đã trịnh trọng đọc bản tuyên ngôn độc lập - khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, từ đây Việt Nam đã có tên trên bản đồ thê giới với tư cách là một quốc gia độc lập (Giới thiệu ảnh – Mít tinh tuyên bố độc lập, ra mắt chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa)
Thực dân Pháp không cam tâm chịu thất bại, ngày 23/9/1945, chúng đã quay trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai và gây hấn ở Nam Bộ.
Trước tình hình đó, Bác Hồ đã ra lời kêu gọi toàn quốc chiến kháng chiến. Lời kêu gọi toàn quốc chiến kháng chiến tuy chỉ có 196 chữ nhưng đã toát lên đầy đủ đường lối kháng chiến của Đảng ta đó là: “Kháng chiến toàn dân, kháng chiến toàn diện và kháng chiến trường kỳ”
Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến du kích Tây Nguyên xây dựng làng chiến đấu để chặn bước tiến của quân thù.
Ngay sau khi giành được chính quyền ngày 6/1/1946, cuộc tổng tuyển cử trong cả nước diễn ra sôi nổi  (Ra mắt chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa)
- Ngày 28/8/1949, Đại đoàn 308 là đại đoàn quân chủ lực đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam ra đời. Giới thiệu ảnh: Lễ thành lập Đại đoàn 308, tại thị trấn Đồn Đu huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Bộ tư lệnh đầu tiên của Đại đoàn 308: Đại đoàn trưởng: Đ/c Vương Thừa Vũ (chỉ Trái ảnh), Chính ủy: Đ/c Song Hào (Giữa ảnh), Đại đoàn phó: Đ/c Cao Văn Khánh (Phải ảnh)
- Những chiến dịch diễn ra trên phạm vi cả nước đã tiêu diệt được một phần sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn như: Chiến dịch Việt Bắc (1947), Chiến dịch Biên Giới (1950), Chiến dịch Hòa Bình (1951) và chiến dịch Tây Bắc (1952)… Những trận chiến này đã đẩy địch vào thế phòng ngự bị động, bộ đội ta trưởng thành thêm một bước.
Tự lực tự cường, đó là một trong những nội dung của đường lối kháng chiến của Đảng.
Thực hiện đường lối đó, ngành Quân giới Việt Nam  đã khắc phục muôn vàn khó khăn, sản xuất được nhiều loại vũ khí cung cấp cho mặt trận.
- Giới thiệu với toàn thể quý khách những vũ khí thô sơ mà quân ta sử dụng để chống Thực dân Pháp: Nỏ, súng kíp, lưỡi mác do du lích ta tự chế.
- Súng kíp của đồng chí Sùng Phái Sinh du kích huyện Tuần Giáo sử dụng để tiêu diệt 18 tên địch. Đồng chí Sùng Phái Sinh (1915 - 1968) sau này được phong tặng danh hiệu anh hùng quân đội ngày 7/5/1956. 
Vào tháng 9/1953, Bộ chính trị của ta đã họp bàn kế hoạch tác chiến mới. Tại cuộc họp này Bác Hồ đã chỉ ra 5 hướng tấn công chiến lược của ta: (chỉ sơ đồ 5 đòn tấn công chiến lược của ta)

- Hướng Tây Bắc và Thượng Lào

- Hướng Trung và Hạ Lào

- Hướng đồng bằng sông Hồng

- Hướng Tây Nguyên và Liên khu 5

- Các hướng phối hợp khác: Bình - Trị - Thiên, Tây Nguyên, Nam Bộ.

 (Giới thiệu bản trích nghị quyết Bộ chính trị tháng 9/1953) “Tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, đánh ăn chắc, đánh chắc thắng, chọn nơi địch tương đối yếu  mà đánh… giữ vững chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán”
- Giới thiệu với toàn thể quý khách trong tủ kính có trưng bày Bom phóng và súng Bazoka – Tháng 4/1947, quân đội ta đã chế tạo thành công tại xưởng quân giới Giang Tiên, Thái Nguyên. Đây là những sáng chế đầu tay của giáo sư Trần Đại Nghĩa. Súng Bazôka cỡ 60 ly, nặng 11kg, có thể vác lên vai dễ dàng, dễ di chuyển, bắn không giật, cự ly bắn hiệu quả là 50 – 60m, xa nhất là 300m. (Giới thiệu về giáo sư Trần Đại Nghĩa).
Xin mời quý khách tham quan tiếp.
Để cứu vãn thất bại sau 7 năm tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, ngày 7/5/1953, được sự đồng ý của Mỹ, Chính phủ Pháp cử tướng trẻ 4 sao Hăngri Nava sang thay cho tướng Salăng làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương (Giới thiệu ảnh Tướng Henri Navarre  đến Việt Nam ngày 7/5/1953 làm tổng chỉ huy quân đội viễn chinh ở Đông Dương để tìm lối thoát danh dự cho Thực dân Pháp). (Navarre là tướng trẻ, có tài, nguyên là tham mưu trưởng lục quân Pháp thuộc khối Bắc Đại Tây Dương đóng ở Trung Âu, Navarre được làng báo chí Phương Tây ca ngợi như một danh tướng có thể uốn nắn tình hình Đông Dương lúc bấy giờ)
Sau hơn một tháng nghiên cứu, khảo sát chiến trường đầu tháng 7/1953, Nava đã xây dựng xong bản kế hoạch mang tên ông ta (Giới thiệu  Kế hoạch Nava).
Một trong những biện pháp cứu vãn thất bại theo Pháp là chúng tăng cường đội quân cơ động mạnh
Các nước đế quốc lớn cũng tìm cách giúp Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược này đặc biệt là với sự giúp sức của Mỹ. (Giới thiệu ảnh vũ khí, trang thiết bị của Mỹ viện trợ cho Pháp 1953).
(Để thực hiện kế hoạch Nava, đồng thời để thăm dò hướng hoạt động của Quân đội ta trong Đông Xuân 1953 - 1954, ngày 15/10/1953, Pháp cho 22 tiểu đoàn đánh ra Tây Nam Ninh Bình. (Chỉ ảnh và giới thiệu ảnh: Phó tổng thống Mỹ Richard NichXơn đến Tây Nam Ninh Bình động viên quân Pháp tháng 11/1953).)
Trước tình hình đó, Tháng 10/1953, Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung Ương Đảng họp quyết định chủ trương kế hoạch quân sự Đông – Xuân 1953 – 1954 đã đề ra phương châm với 8 chữ vàng: “Tích cực, chủ động, cơ động và linh hoạt”.
Trong năm 1953, Đảng ta thực hiện cải cach ruộng đất “Chia ruộng đất cho dân cày” (Chỉ ảnh cải cách ruộng đất) Học tập chính trị để nâng cao nhận thức, giác ngộ cách mạng, học tập quân sự nâng cao kỹ, chiến thuật là các hoạt động sôi nổi trong toàn quân ở giai đoạn này (Giới thiệu khối ảnh)
Giới thiệu với quý khách bức ảnh chụp toàn cảnh thị xã Lai Châu sau ngày giải phóng, nay là thị xã Mường Lay, cách Điện Biên Phủ 100km. Tại đây ngày 10/12/1953, bộ đội ta tiến đánh và giải phóng Lai Châu (Ảnh) bao vây Điện Biên Phủ .
Bị đánh mạnh ở  Lai Châu địch tháo chạy về ĐBP, bộ đội được lệnh chặn địch không cho chúng co cụm về ĐBP.
Tại Mường Pồn, trận chiến đấu diễn ra ác liệt. Đồng chí Bế Văn Đàn mặc dù vừa đi công tác về nhưng khi thấy chỉ huy thông báo đồng chí đã xung phong lên đường làm nhiệm vụ. Mặc cho bom rơi, đạn nổ, đồng chí đã dũng cảm vượt qua lưới đạn dày đặc của địch, xuống truyền đạt mệnh lệnh cho đại đội kịp thời, chính xác. Trong khi đó, trận chiến đấu diễn ra ngày một ác liệt, đồng chí được lệnh ở lại đại đội chiến đấu. Địch phản kích lần thứ ba, chúng điên cuồng mở đường tiến, đại đội bị thương vong nhiều, chỉ còn 17 người, bản thân Bế Văn Đàn cũng bị thương, nhưng đồng chí vẫn tiếp tục chiến đấu. Một khẩu trung liên của đơn vị không bắn được vì xạ thủ hy sinh. Khẩu trung liên của đ/c Chu Văn Pù cũng chưa bắn được vì không có chỗ đặt súng, tình thế hết sức khẩn trương, không ngần ngại đồng chí Bế Văn Đàn chạy lại cầm 2 chân khẩu trung liên đặt lên vai mình và hô đ/c Pù: “Bắn, bắn, để trả thù cho đồng đội”. Đồng chí Pù còn do dự thì Bế Văn Đàn đã nói: ''Kẻ thù trước mặt, đồng chí có thương tôi thì bắn chết chúng nó đi''. Đồng chí Pù nghiến răng nổ súng vào đội hình quân địch quật ngã hàng chục tên. Địch hoảng hốt bỏ chạy, đợt phản kích này của chúng bị bẻ gãy. Trong lúc lấy thân mình làm giá súng, đồng chí Bế Văn Đàn bị hai vết thương nữa và đã anh dũng hy sinh, hai tay vẫn còn ghì chặt súng trên vai mình. Tấm gương dũng cảm của đồng chí đã cổ vũ cán bộ, chiến sĩ trên toàn mặt trận hăng hái thi đua giết giặc lập công, kết quả trong trận chiến này ta đã tiêu diệt được 24 đại đội địch (Chỉ tượng và hiện vật).
Tháng 12/1953 và tháng 1/1954, liên quân Lào Việt sát cánh bên nhau đánh địch ở Trung Lào, Hạ Lào và Thượng Lào, tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn, tiếp tục đẩy Navarre vào thế bị động. (Giới thiệu khối ảnh và hiện vật).
Cùng với quân và dân Cămpuchia đánh địch ở Đông Bắc Cămpuchia, giải phóng phần lớn Công-Pông-Chàm (Giới thiệu hiện vật).
Giới thiệu ảnh nhân dân Lào tặng hoa cho bộ đội tình nguyện Việt Nam (Tháng 1/1954).
Ta càng đánh càng mạnh, địch càng đánh càng thất bại. Đây là thất bại có ý nghĩa chiến lược .
Vậy trước tình hình đó thực dân Pháp có những âm mưu và hành động mới thế nào? Xin mời quý khách tham quan tiếp.
 
  Phần II: Âm mưu và hành động của thực dân Pháp chiếm đóng Điện Biên Phủ.
  Được tin bộ đội chủ lực của ta tiến quân lên Tây Bắc, Tháng 11 năm 1953, Navarre đã huy động 60 chiếc máy bay Đacôta thả 6 tiểu đoàn lính dù tinh nhuệ tương đương với 4.500 quân nhảy dù xuống cánh đồng Mường Thanh đánh chiếm Điện Biên Phủ. Cuộc hành binh mang tên (Caxstor) tức chuột biển do tướng Gilles chỉ huy. (Giới thiệu ảnh tướng Gilles chỉ huy cuộc nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ) Tướng Gilles là tứng giỏi từng chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Nà Sản tại Sơn La, sau khi hoàn thành cuộc nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, vì sợ phải đối đầu với đối phương Gilles lấy lý do sức khỏe có vấn đề và đề nghị chính phủ Pháp cử người khác lên thay thế. Đề nghị đó đã được chuẩn y.
     Theo Navarre và các nhà bình luận quân sự phương Tây đánh giá: Điện Biên Phủ có một vị trí chiến lược quan trọng không những đối với Đông Dương mà còn đối với khu vực Đông Nam Á. Một trục giao thông liên hoàn nối liền 4 quốc gia: Lào, Thái Lan, Miến Điện, Trung Quốc. Đây cũng là “một cái chìa khóa để bảo vệ cho Thượng Lào”, một “ bàn xoay” có thể xoay đi bốn phía: Lào, Thái Lan, Miến Điện, Trung Quốc. Đây cũng sẽ trở thành một căn cứ không quân, Lục quân lợi hại phục vụ tối ưu cho các chính sách mà Pháp tiến hành ở Việt Nam. Từ Điện Biên Phủ, quân Pháp có thể bảo vệ được Lào từ đó đánh chiếm ra các vùng đã mất ở Tây Bắc và tạo điều kiện thuận lợi để tiêu diệt các sư đoàn chủ lực của đối phương nếu họ đến đây.
        Sau khi cân nhắc kỹ vị trí chiến lược Điện Biên Phủ, ngày 3 tháng 12 năm 1953, Navarre quyết định xây dựng Điện Biên Phủ thành một Tập Đoàn cứ điểm với binh lực, hỏa lực mạnh gồm: Bộ binh quân dù, pháo binh, xe tăng và không quân chi viện kết hợp với hệ thống công sự chiến hào vững chắc, với hàng rào dây thép gai và bãi mìn dày đặc.
      Trong một chuyến bay từ Hà Nội lên Điện Biên Phủ cả Navarre và Congy đã bàn bạc và đi tới thống nhất quyệt định cử De Castries  lên nhận chức chỉ huy trưởng Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ngày 8 tháng 12 năm 1953, De Castries chính thức lên nhậm chức chỉ huy trưởng Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, khi đó ông mang quân hàm Đại Tá và 51 tuổi. Với sự tin tưởng tuyệt đối của các nhà cầm quyền nước Pháp ngay khi vừa đến Điện Biên Phủ De Castries đã cho xây dựng và củng cố để biến Tập đoàn cứ điểm Điện Biên phủ thành một “con nhím khổng lồ” sẵn sàng nghiền nát bộ đội chủ lực Việt Minh nếu họ dám tấn công vào đây.
     Xin giới thiệu với quý khách bức ảnh chụp toàn cảnh Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ở độ cao trên 2.000 m từ máy bay vào tháng 2 năm 1954 trước khi xảy ra chiến sự một tháng.
     Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm trải dài trên lòng chảo Điện  Biên Phủ, được chia thành 3 phân khu: Bắc, Trung, Nam và được khoanh thành 8 cụm mang tên 8 cô gái đẹp nước Pháp, với ý nghĩa khích lệ động viên tinh thần binh lính Pháp.
      Ngoài ra, Điện Biên Phủ còn được ưu tiên tất cả những loại vũ khí tối tân hiện đại do Mỹ viện trợ như: Xe tăng, máy bay, pháo 155ly, tia hồng ngoại có thể quan sát vào ban  đêm súng trung liên, súng đại liên. ..
      Khi tiến hành xây dựng Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ Pháp đã xây dựng các cứ điểm kiên cố và vững chắc, mỗi cứ điểm là một hệ thống hỏa lực nhiều tầng với chiến hào ngang dọc, có khả năng phòng ngự độc lập. Hàng rào dây thép gai bao quanh dày từ 50 đến 200 mét kết hợp với bãi mìn dày đặc và hàng rào điện sát mặt đất, có lực lượng cơ động và hỏa lực riêng.Tập đoàn cứ điểm này có 2 sân bay: Mường Thanh và dự bị Hồng Cúm, lực lượng quân lúc cao điểm nhất lên tới 16.200 quân.
     Hàng ngày có từ 200 tấn đến 300 tấn lương thực, súng đạn thuốc men đạn dược và khoảng 100 đến 150 binh lính  do máy bay từ Hà Nội, Hải Phòng chở tới yểm trợ. Trong các cứ điểm còn được bố trí mìn nhảy, mìn nhíp, mìn ghém, mìn kiềng, để bảo vệ Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
     Navarre hạ quyết tâm lấy Điện Biên phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với bộ đội Việt Minh. Để Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ trở nên kiên cố và vững chắc một cách tối ưu nhất De Castries đã hàng loạt những Thông tri và chỉ thị ra lệnh cho binh lính phá dỡ nhà dân, chặt cây cối để lấy cột nhà kết hợp với tấm ghi sắt, thanh sắt để xây dựng công sự. Bên cạnh đó De Castries còn nhắc nhở binh lính Pháp phải vào hầm trú ẩn khi có hiệu lệnh báo động và phải phải đội mũ sắt khi đi lại đề phòng pháo kích của Việt Minh. Các sỹ quan và binh lính pháp càn tổ chức tại chỗ một bộ phận thường trực để cứu nguy cho những người bị sập hầm.
      Trong tủ kính có trưng bày một số hiện vật Cối xay Cà Phê, gậy Pa Toong của De Catries đã sử dụng trong thời gian chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ngoài ra còn có quần áo lính Pháp, Mũ sắt, Ba lô và Phù hiệu của các đơn vị tham chiến ở Điện Biên Phủ, (mỗi một phù hiệu có một hình hài riêng do nhiều hãng, nhiều địa phương của Pháp sản xuất, chủ yếu là hãng Đragô, Phố Bêrangô, Ôliviê, Mêtơra. Mỗi phù hiệu có biểu tượng khác nhau nhưng phần lớn đều có hình mỏ neo. Đặc điểm này với ngụ ý quân Pháp ở nước ngoài. Vì Pháp xâm lược Việt Nam đầu tiên bằng đường biển. Để nhận biết lính lê dương hay bộ binh trên phù hiệu có hình cây xòe 5 cánh, lính dù có cách chim). Tất cả những hiện vật trên là chiến lợi phẩm ta đã thu được trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
    Với lối trưng bày hình mạng nhện Bảo tàng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ muốn diễn tả âm mưu thâm đọc của Thực dân Pháp, chúng muốn giăng bẫy ra để nhử bộ đội chủ lực của ta vào, nhưng chúng không thể ngờ rằng chính chúng lại sa chân vào cái bẫy đó.
      Trước những âm mưu và hành động của thực dân Pháp như vậy Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng đã có chủ trương chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ như thế nào mời quý khách đồng hành cùng thuyết minh viên.
    Phần III: Chiến dịch Điện Biên Phủ
            1. Chủ trương của Đảng, chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
            Chiến dịch Điện Biên Phủ là một chiến dịch vô cùng quan trọng nên được Đảng và Bác Hồ đặc biệt quan tâm, trong cuộc họp của Bộ chính trị tại Tỉn Keo, Định Hóa, Thái Nguyên ngày 6/12/1953 Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy toàn quân, toàn dân và toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”.        
      Sau khi Điện Biên Phủ được chọn làm điểm quyết chiến chiến lược trong Đông Xuân 1953- 1954 nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là sửa đường, mở đường để hành quân lên Điện Biên Phủ, trên đây là hình ảnh các đại đoàn chủ lực của ta ngày đêm nô nức, rầm rộ vượt qua hàng trăm km đường rừng núi hành quân lên Tây Bắc ( Ảnh Đại đoàn hành quân)
.
    Xin giới thiệu với quý khách về bức ảnh Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ tại Hang Thẩm Púa ở km số 15 đường từ Tuần giáo vào Điện Biên Phủ, đây là điểm dừng chân đầu tiên của Bộ chỉ huy chiến dịch từ ngày 7/12/1953 đến ngày 17/1/1954. Tại đây, căn cứ vào tình hình chiến sự thực tế lúc bấy giờ, quân đội Pháp mới chỉ có 6 tiểu đoàn, hệ thống công sự còn nhiều sơ hở, đồng thời để khắc phục hậu cần, ngày 14/1/1954 trên một sa bàn cát, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng với Bộ chỉ huy chiến dịch đã họp bàn và quyết định tiêu diệt Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ theo phương châm “đánh nhanh, thắng nhanh” trong vòng 3 đêm 2 ngày.
  Giới thiệu với quý khách sơ đồ thể hiện phương án tác chiến “đánh nhanh, thắng nhanh” , ta tập trung toàn bộ binh lực, hỏa lực bằng 3 mũi tấn công đánh thẳng vào trung tâm, làm phân tán lực lượng địch, kết hợp từ trong đánh ra, từ ngoài đánh vào,tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ liên tục trong vòng 3 đêm 2 ngày.
   Điểm dừng chân thứ hai của Bộ chỉ huy chiến dịch đặt tại Huổi He- Nà Tấu từ ngày 18/1/1954 đến ngày 30/1/1954 (Hình ảnh là sở chỉ huy chiến dịch tại hang Huổi He, xã Nà Tấu, huyện Điện Biên km 55 đường từ Tuần Giáo vào Điện Biên). Tại đây Bộ chỉ huy chiến dịch đã triển khai thực hiện phương án “đánh nhanh, thắng nhanh”,  nhiệm vụ chính  được đặt ra lúc này là chỉ đạo bộ đội, dân công khẩn trương làm đường, kéo pháo, vận chuyển lương thực, đạn dược ra mặt trận.
  Đến cuối tháng 1 năm 1954, sau khi nghiên cứu tình hình cụ thể lúc bấy giờ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ rõ 3 khó khăn lớn ta gặp phải lúc bấy giờ, đó là :
 - Lực lượng của Pháp có sự thay đổi rất lớn,từ 6 tiểu đoàn đã lên tới 12 tiểu đoàn , Pháp được Mỹ viện trợ cho nhiều phương tiện vũ khí chiến tranh hiện đại nhất lúc bấy giờ, hệ thống công sự phòng ngự được xây dựng kiên cố, vững chắc.
- Ta quen với lối đánh du kích, đánh vào ban đêm có địa hình ẩn náu và lực lượng của ta lúc này chỉ có thể đánh được một tiểu đoàn.
- Lần đầu tiên có sự hiệp đồng tác chiến giữa bộ binh và pháo binh, nhưng lại chưa qua tập luyện.
  Sau 11 ngày trăn trở và một đêm thức trắng, nhiều lần bàn bạc, thuyết phục Bộ chỉ huy mặt trận và lời nhắc nhở của Hồ Chủ tịch trước khi lên đường ra mặt trận vẫn còn văng vẳng bên tai Đại tướng : “chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Vì vậy, ngày 26 tháng 1 năm 1954, tại hang Huổi He bản Nà Tấu Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thuyết phục Đảng ủy chuyển từ phương châm “đánh nhanh thắng nhanh” sang phương châm “đánh chắc tiến chắc” và trên thực tế diễn biến của chiến dịch Điện Biên Phủ đã diễn ra theo phương châm thứ hai “ đánh chắc tiến chắc” trải qua 56 ngày đêm. Đây là quyết định sáng suốt và táo bạo trong cuộc đời cầm quân của  Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
  Nói đến sự kiện lịch sử trọng đại này, 35 năm sau trong cuốn “Điện Biên Phủ - Điểm hẹn Lịch Sử” Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tâm sự : “Trong ngày hôm đó tôi đã thực hiện được một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình”.
            Sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi đã có rất nhiều vị tướng lĩnh đều có chung một nhận định rằng: Nếu ngày đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp không thay đổi phương châm tác chiến thì phần lớn chúng tôi sẽ không có mặt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và cuộc kháng chiến có thể lui lại 3 năm, 5 năm thậm chí là 10 năm sau nữa.
  Giới thiệu với quý khách bên cạnh là sơ đồ thể hiện phương châm tác chiến “Đánh chắc, tiến chắc” với phương châm này ta lần lượt bóc từng lớp vỏ cứng của Tập đoàn cứ điểm sau đó mới dồn lực lượng thọc sâu vào trung tâm tiêu diệt cơ quan đầu não của địch để kết thúc chiến dịch.      
  Điểm dừng chân thứ ba và cũng là điểm dừng chân cuối cùng của Bộ chỉ huy chiến dịch được đóng tại khu rừng Mường Phăng (Giới thiệu ảnh) trong suốt thời gian 105 ngày (từ ngày 31/1 đến ngày 15/5/1954) Bộ chỉ huy chiến dịch làm việc tại khu rừng Mường Phăng luôn đảm bảo tuyệt đối bí mật, an toàn. Những mái lán đơn sơ của Sở chỉ huy nằm ẩn mình giữa tán rừng đại ngàn, men theo một con suối nhỏ hình vòng cung, ôm lấy chân đỉnh núi Pú Đồn trên một diện tích đất tự nhiên khoảng 90km2. Được bao bọc bởi những bản làng  của người Thái, Mông, Khơ mú. Tại đây đã diễn ra những cuộc đấu trí, đấu lực đầy kịch tính giữa Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ với Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp. Cũng chính tại khu rừng này Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng với Bộ chỉ huy chiến dịch đã bàn bạc và đưa ra những quyết sách quan trọng góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Tuy làm việc trong những điều kiện khó khăn thiếu thốn nhưng Bộ chỉ huy chiến dịch đã chỉ đạo các đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
  Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ đã qua nhiều lần trùng tu tôn tạo, và trong lần tôn tạo năm 2003 ta đã tìm được một số hiện vật như: Gỗ lát trần hầm, cột chống trần hầm, đinh đỉa, đinh bù loong… và một số dụng cụ thô sơ như:  Búa, Rìu, Bào để đào hầm và làm lán tại Sở chỉ huy chiến dịch Mường Phăng.
  Để nắm bắt tình hình một cách nhanh chóng, chính xác Đại Tướng đã sử dụng chiếc Máy điện thoại này để liên lạc với Bộ chính trị, Hồ Chủ Tịch và các đơn vị tham gia chiến dịch kể cả hậu phương và tiền tuyến. Chiếc đèn bão vẫn được thắp sáng hàng đêm dưới tán rừng đại ngàn đã gắn liền với Đại Tướng Võ Nguyên Giáp trong suốt chiến dịch.
  Mời quý khách tham quan tiếp!
  Bất ngờ lớn nhất đối với Pháp và cũng là thắng lợi to lớn của quân và dân ta, đó chính là việc mở đường kéo pháo vào mặt trận Điện Biên Phủ. Để thực hiện phương châm “ Đánh nhanh thắng nhanh” ngày 15/1/1954, hơn 5.000 cán bộ chiến sỹ của ta đã rải đều trên khắp các sườn đồi, sườn núi, với nhiệm vụ vừa cắm mốc vừa làm hầm trú ẩn, hầm công sự cho pháo. Chỉ sau 20 giờ đồng hồ một con đường chỉ có thể có trong tưởng tượng với tổng chiều dài 15km rộng 3m đã được hoàn thành và ngụy trang một cách kín đáo. Mà theo tính toán ban đầu để hoàn thành con đường đó chúng ta phải huy động đến 40.000 dân công. Đến ngày 16/1/1954 ta bắt đầu kéo pháo vào mặt trận Điện Biên Phủ, các chiến sỹ ta đã phải kéo những khẩu pháo nặng từ 2 tấn đến 2,4 tấn vào trận địa sử dụng hoàn toàn bằng sức người vượt qua bao đèo cao suối sâu vào trận địa. Một bên là  núi cao, một bên là vực thẳm chỉ cần một sơ xuất nhỏ cũng đủ gây nguy hiểm cho người và pháo. Đêm đêm theo tiếng hò “dô ta” hàng trăm chiến sỹ mặc áo trấn thủ, đầu đội mũ nan, cúi rạp người, choãi chân, những bắp tay cuồn cuộn, những bàn tay rướm máu bám chặt dây kéo pháo, những khẩu pháo nhích dần, nhích dần. Tuy khó khăn vất vả, 1/3 số pháo đã được kéo vào trận địa một cách an toàn. Nhưng đến ngày 26/1/1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định thay đổi phương châm từ “Đánh nhanh thắng nhanh” sang “ Đánh chắc tiến chắc”. Quá bất ngờ và không hiểu vì sao? Nhưng quân lệnh như sơn, tất cả các khẩu pháo nhất loạt quay đầu kéo ra vị trí tập kết ban đầu.
   Kéo pháo vào đã khó khăn gian khổ, kéo pháo ra còn gian khổ gấp bội phần, trên đường kéo ra tại dốc chuối, đêm tối, mưa trơn, khẩu pháo bị đứt dây tời lao nhanh xuống dốc. Trước hoàn cảnh nguy hiểm đó, anh Tô Vĩnh Diện hô anh em “thà hy sinh quyết bảo vệ pháo” và ngay lập tức anh lao tới để cứu pháo, khẩu pháo khựng lại, nhưng hàng tấn sắt thép ấy đã đè lên người anh và anh đã hy sinh. Tấm gương hy sinh của anh cổ vũ mạnh mẽ tinh thần cho đồng đội hoàn thành nhiệm vụ kéo pháo ra an toàn và tiếp tục xây dựng trận địa để thực hiện phương châm “ Đánh chắc tiến chắc”. 
  Xin giới thiệu với quý khách một số hiện vật như: thuốn bom, dây chão, cọc tời, guốc chèn pháo, khoẳm tỳ vai, dây chão bộ đội dụng để hỗ trợ khi kéo pháo vào trận địa.

  Kéo pháo đã trở thành một thiên anh hùng ca bất hủ trong quân đội và nhân dân ta, những tấm gương anh dũng, ý chí kiên cường, sự gian khổ hy sinh trong kéo pháo đã là nguồn cảm hứng của rất nhiều nhà thơ, nhà văn, nhạc sỹ. Trong tủ kính còn có trưng bày chiếc mõ tre, của các chiến sỹ tiểu đoàn 394 trung đoàn pháo cao xạ 367 dùng làm hiệu lệnh thay cho tiếng hò kéo pháo, sau khi hô hò khản cả cổ các chiến sỹ đã có sáng kiến chế tạo ra chiếc mõ tre, cứ sau 3 tiếng mõ “ Cốc…cốc…cốc” lại cùng nhau kéo pháo và chính trong hoàn cảnh này đã khơi nguồn cảm hứng cho Nhạc sỹ Hoàng Vân sáng tác bài hát :“ Hò kéo pháo”.

Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, nghệ thuật vận dụng pháo binh và pháo cao xạ của ta bất ngờ, linh hoạt, sáng tạo, chuẩn xác kịp thời, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc. Khi nhắc đến chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 ta không thể không nhắc đến sự thành công và đóng góp to lớn của lực lượng pháo binh nói chung và vai trò của cao xạ nói riêng, trong toàn chiến dịch lực lượng pháo cao xà đã bắn rơi 52 máy bay trong tổng số 62 máy bay bị phá hủy và bắn rơi của Pháp . Và đây là một trong 4 khẩu pháo cao xạ thuộc Đại đội 815,Tiểu đoàn 383, Trung đoàn 367 đã lập thành tích xuất sắc bắn rơi chiếc máy bay đầu tiên của Pháp tại mặt trận Điện Biên Phủ. Sau khi chiến dịch kết thúc thắng lợi các trung đoàn pháo của ta đã được Đảng và Bác trao tặng danh hiệu cao quý: Huân chương chiến công hạng ba.

  Mời quý khách thăm quan tiếp!
  Điện Biên là một tỉnh miền núi hiểm trở cách xa hậu phương. Để lên Điện Biên ta chỉ có 1 con đường mòn là đường số 41 chạy từ Hòa Bình qua Mộc Châu, Sơn La đến Tuần Giáo. Từ Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ chỉ có con đường mòn thường ngày cho xe ngựa thồ qua lại nhưng cũng đã bị hư hỏng nặng, nhiều đoạn đường bị sụt lở không còn dấu vết.
  Chiến dịch Điện Biên Phủ là một chiến dịch công kiên lớn, đánh dài ngày, khối lượng cung cấp tiếp tế rất lớn nên vấn đề giao thông vận tải trở thành một khâu trung tâm quan trọng phải giải quyết. Trong lá thư  Hồ chủ tịch gửi Hội cán bộ giao thông công chính  ngày 16/9/1953 Hồ chủ tịch đã nhấn mạnh vai trò của giao thông vận tải: “…Năm nay công tác giao vận tải nhất là công tác sửa đường cầu rất quan trọng. Đường xá thông thì mọi việc đều dễ dàng”.
 Để đáp ứng nhu cầu vật chất to lớn của chiến dịch Điện Biên Phủ nhất thiết ta phải mở đường để vận chuyển lương thực vũ khí đạn dược vào mặt trận. Trong lịch sử chống Pháp của dân tộc ta chưa bao giờ con đường ra trận lại đông đảo nô nức nhộn nhịp như lần này, những tiếng choòng, tiếng búa, tiếng cuốc xẻng, tiếng mìn vang lên không lúc nào ngớt. Tất cả đã tạo nên bức tranh hùng vĩ, một không khí thật náo nhiệt hừng hực khí thế quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do của tổ quốc. Chưa bao giờ có một cảnh tượng hợp đồng chiến đấu chặt chẽ đến như vậy, sự kết hợp giữa các lực lượng binh chủng: công binh, bộ binh, pháo binh, dân công, thanh niên xung phong….tất cả họ đều hướng tới và cùng chung một mục đích: quyết tâm tiêu diệt Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chỉ trong vòng một thời gian ngắn bộ đội, thanh niên xung phong và dân công đã ngày đêm bạt núi xuyên rừng
- Mở các tuyến đường đi lên Điện Biên Phủ
- Mở đường kéo pháo
- Sửa hàng trăm km đường cũ từ Hòa Bình lên Điện Biên
- Mở mới 63km quãng đường từ Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ
Để ngăn cản của quân chủ lực Việt Minh, Pháp đã trút hàng ngàn tấn bom xuống các con đường đi lên Điện Biên Phủ, chúng còn dự định làm mưa nhân tạo làm sụt lún các con đường vận chuyển lương thực của ta “nhưng kế hoạch đó của Navare cuối cùng cũng chỉ là mơ tưởng”, mọi nỗ lực đó của Pháp không thể đánh bại ý chí kiên cường của quân và dân ta, mọi tuyến đường vận chuyển vẫn đảm bảo lưu thông, không bị cắt đứt quá 24h. Không khí tại hậu phương chuẩn bị chiến đấu, phục vụ tiền tuyến thật nhộn nhịp và sôi nổi không chỉ trong từng thôn xóm mà còn trên từng nẻo đường từ hậu phương ra tiền tuyến.
            Xin mời quý khách cùng tham quan chủ đề tiếp theo của nhà trưng bày:
  Yếu tố tạo nên bất ngờ lớn thứ 2 đối với Pháp đó chính là: Công tác vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược vào chiến trường Điện Biên Phủ.
   Tướng Navarre đã quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược trong Đông Xuân 1953- 1954. Bởi Navarre cho rằng Điện Biên là một tỉnh miền núi hiểm trở, lại ở cách xa hậu phương nên việc vận chuyển lương thực vào đây sẽ gặp rất nhiều khó khăn, ông ta cũng đã tính toán rằng: Mỗi một dân công Việt Nam mà ông thường gọi bằng một từ miệt thị là một “ Cu ly” Việt minh có thể vận chuyển trung bình mỗi người từ 10 đến 20kg lương thực vào mặt trận Điện Biên Phủ thì cả quãng đường đi đó đã ăn hết, chỉ dư ra từ 0,8 đến 2kg không đủ để phục vụ cho mặt trận, ngược lại đối với y cầu hàng không hiện đại chỉ cần 90 phút 5 tấn hàng của y sẽ được đáp xuống sân bay Mường Thanh.
Nhưng với khẩu hiệu “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, chúng ta đã huy động toàn bộ phương tiện từ xe cơ giới đến thô sơ như:  ô tô, thuyền, bè, mảng, xe cút kít, xe đạp thồ, để vận chuyển hàng chục ngàn tấn lương thực, đạn dược vào mặt trận Điện Biên Phủ.
     Với tinh thần cả nước ra trận những đoàn xe đạp thồ từ Thanh Hóa lên, đoàn ngựa thồ từ Lai châu đến, những chiếc xe quệt, và những đoàn ô tô nối đuôi nhau  băng qua đèo cao, vực thẳm,chị em dân công với quang gánh kĩu kịt trên vai, với những đôi bung, đòn gánh, chiếc gùi vượt qua bao bãi mìn, hố bom, tất cả đã nên một bức tranh sống động thật khẩn trương và nhộn nhịp:
Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ
Đèo Lũng Lô anh hò chị hát
Dù bom đạn xương tan thịt nát
Không sờn lòng không tiếc tuổi xanh.
     Xin giới thiệu với quý khách một trong những phương tiện thô sơ nhất mà ta đã sử dụng trong quá trình vận chuyển lương thực đó chính là xe cút kít. Trong chiến dịch ta đã huy động được 7.000 xe cút kít, riêng tỉnh Thanh Hóa trong toàn chiến dịch Điện Biên Phủ ta đã huy động được 70 chiếc xe cút kít mỗi xe vận chuyển trung bình từ 80 đến 100kg.  Đây là chiếc xe cút kít của ông Trịnh Đình Bầm người dân công tỉnh Thanh Hóa, ông đã cùng với chiếc xe này vượt qua bao khó khăn gian khổ trên đoạn đường dài 20km từ Sánh Lược đi lên Phố Cống tới trạm Luồng. Ông Trịnh Đình Bầm đã nâng tải trọng xe của mình lên từ 200 đến 280kg trên 1 chuyến. Chỉ trong vòng 4 tháng, ông đã vận chuyển được 12.000kg lương thực phục vụ chiến dịch. Điều đặc biệt ở chiếc xe này là phần thứ 3 bánh xe có sơn son thiếp vàng, tự tay ông đã dỡ bàn thờ tổ tiên của gia đình mình xuống để làm 1 phần cho bánh xe. Trong tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam, bàn thờ tổ tiên là nơi quan trọng, linh thiêng nhất, có thể nói là nơi “ bất khả xâm phạm” Vậy mà ông đã hy sinh cái tôi cá nhân mình, tất cả vì độc lập tự do. Chiếc xe cút kít tưởng chừng như đơn giản và thô sơ ấy lại chứa đựng trong mình ca một sức mạnh phi thường về tinh thần đoàn kết,ý chí kiên cường và khao khát độc lập tự do bằng bất cứ giá nào của cả một dân tộc. Trong một lần đến tham quan bảo tàng sau khi nghe thuyết minh về chiếc xe cút kít này một du khách nước ngoài không khỏi ngạc nhiên và thán phục: “Một dân tộc dám hy sinh cả tôn giáo tín ngưỡng của mình để giành lấy độc lập tự do, thì dân tộc ấy tất sẽ giành thắng lợi”.
Với đặc điểm địa hình Điện Biên Phủ chủ yếu đèo dốc quanh co, đồng bào các dân tộc ở Tây Bắc đã tự sáng chế ra những chiếc xe quệt tân dụng sức kéo trâu, bò, ngựa để vận chuyển lương thực, thực phẩm cho chiến dịch.
  Hướng về mặt trận còn có một khối lượng thực phẩm “tự hành” là những đàn gia súc như: trâu, bò, lợn.... góp phần cung cấp nguồn thực phẩm tươi cho các chiến sỹ ngoài mặt trận.
  Giới thiệu với qúy khách một trong những phương tiện sử dụng chủ yếu trong chiến dịch Điện Biên Phủ là những chiêc xe đạp thồ. Ta đã huy động được 20.991 chiếc xe, trung bình mỗi chiếc có thể vận chuyển được từ 100kg đến 150 kg lương thực. Nhưng đặc biệt chiếc xe đạp thồ của  ông Ma Văn Thắng người dân công Phú Thọ, ông đã nâng tải trọng chiếc xe lên đến 337 kg trong một chuyến. Trong quá trình vận chuyển lương thực ra mặt trận địa hình di chuyển rất khó khăn  dân công của chúng ta đã có nhiều sáng kiến cải tiến để chiếc xe ngày càng hoàn chỉnh hơn: những chiếc "tay ngai", "tay phanh", "lốp kép"... Đây chính là những chiếc xe đạp hiệu PeuGeot của Pháp là những chiến lợi phẩm ta thu được từ những chiến dịch ở đồng bằng.
  Sau này khi chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã kết thúc, chính NaVarre là người đã phải thốt lên rằng: Một trong những lý do khiến ông ta thất bại trong chiến dịch Điện Biên Phủ lại chính bởi những chiếc xe đạp thồ đơn giản thô sơ được điều khiển bởi những người dân công Việt Minh ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, ngủ ngay trên những mảnh ni lông dải ngay ở bìa rừng, nhưng lại có khả năng điều khiển những chiếc xe đạp có trọng tải hàng trăm kg, đã đánh bại các loại vũ khí tối tân hiện đại như xe tăng và pháo lớn của quân đội Pháp.
            Phần trưng bày tiếp theo là diễn biến của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Trải qua 56 ngày đêm chiến đấu ta đã tổ chức 3 đợt tấn công
            Đợt tấn công thứ nhất : từ ngày 13/3 đến ngày 17/3 năm 1954
Nhiệm vụ của ta trong đợt tấn công thứ nhất là đánh địch từ vòng ngoài, gồm các cứ điểm: Him lam, Độc Lập, Bản Kéo
Đợt tấn công thứ hai: Từ ngày 30/3 đến ngày 30/4 năm 1954
Nhiệm vụ đánh địch ở dãy cao điểm phía Đông, xây dựng trận địa tấn công, bao vây, chia cắt các cứ điểm địch, khống chế đi đến triệt hẳn đường tiếp tế, tiếp viện của địch, chia cắt phân khu trung tâm với phân khu Nam.
            Đợt tấn công thứ 3: từ ngày 1/5 đến ngày 7/5/1954
            Đánh chiếm các cứ điểm còn lại, sau đó sẽ dồn toàn bộ lực lượng tiến hành cuộc tổng công kích trên toàn mặt trận.
                     Các chú vừa được chỉnh quân chính trị và chỉnh huấn quân sự và đã thu được nhiều thắng lợi về tư tưởng và chiến thuật, kĩ thuật. Nhiều đơn vị đã đánh thắng trên các mặt trận. Bác tin rằng các chú sẽ phát huy thắng lợi vừa qua, quyết tâm vượt mọi khó khăn gian khổ để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang sắp tới”…
2. Đợt tấn công thứ nhất từ ngày 13/3 đến ngày 17/3/1954
  Mọi công tác chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ đã được hoàn tất. Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ đã quyết định chọn ngày 13/3/1954 là ngày mở màn chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.
Him Lam được chọn là điểm nổ súng đầu tiên để mở màn cho chiến dịch lịch sử. Him Lam gồm 3 mỏm đồi tạo thế hình chân kiềng có vị trí quan trọng đối với Tập đoàn Điện Biên Phủ, nằm án ngữ con đường 41 từ Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ. Tại đây, Thực dân Pháp đã bố trí lực lượng chốt giữ mạnh cùng với hệ thống công sự và hỏa lực đủ để tiêu diệt đối phương khi tấn công vào.
Trước giờ nổ súng, lệnh động viên của Đại tướng Võ Nguyên giáp và thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được gửi đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ các đơn vị tham gia chiến dịch.
  Các chiến sĩ đều rất vui mừng phấn khởi trước sự quan tâm của Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ai cũng hừng hực khí thế chiến đấu và chiến thắng. Chiến sĩ Hà Văn Khanh thuộc trung đoàn 141, đại đoàn 312 đã viết “quyết tâm thư” gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh hứa sẽ hoàn thành nhiệm vụ trận Him Lam. (giới thiệu quyết tâm thư)
  Bác Hồ vẫn luôn dành sự quan tâm đặc biệt dành cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Trước khi chiến dịch bắt đầu Bác đã gửi thư động viên các chiến sĩ tham gia chiến dịch (Bản trích): “Các chú sắp ra trận. Nhiệm vụ của các chú lần này rất to lớn, khó khăn nhưng rất vinh quang… Bác chờ các chú báo cáo thành tích để thưởng những đơn vị và cá nhân xuất sắc nhất. Chúc các chú thắng to. Bác hôn các chú”. Lá thư của Bác đã được đọc trước giờ xuất trận, là niềm động viên, cổ vũ các chiến sĩ quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
  Đúng 17 giờ ngày 13/3/1954, đại đội lựu pháo 806, trung đoàn 45, đại đoàn 351 đã bắn những phát đạn đầu tiên vào Trung tâm đề kháng Him Lam, phân khu trung tâm, sân bay Mường Thanh mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ. Một viên đạn pháo rơi trúng sở chỉ huy Him Lam, tiêu diệt tại chỗ viên tiểu đoàn trưởng PêGô cùng 3 tên sĩ quan khác. Liên lạc giữa Him Lam và Mường Thanh bị cắt đứt hoàn toàn. 18 giờ 30 phút ngày 13/3/1954, ba mũi xung kích của 3 tiểu đoàn bộ binh , tiểu đoàn 130 thuộc trung đoàn 209, tiểu đoàn 428 và tiểu đoàn 11 của trung đoàn 141 thuộc đại đoàn 312 tiến vào cửa mở cụm cứ điểm Him Lam.
Tiểu đội của anh Trần Can là mũi nhọn xung kích của Đại đội 366, Tiểu đoàn 130 sau gần một giờ trung đội bộc phá phá mở xong hàng rào, tín hiệu đỏ vút lên: lệnh xung phong, anh Trần Can dẫn tiểu đội vượt lên cửa mở diệt lô cốt địch. Từ hầm chỉ huy hỏa lực của địch bắn ra mạnh quét sát mặt đất, Trần Can phân công một chiến sỹ trung liên bắn phía trước nghi binh và một tổ phía sau bất ngờ quăng thủ pháo,tiêu diệt hỏa điểm địch. Ngay lập tức anh Trần Can đã nhảy lên chiến hào,lao tới và cắm lá cờ “Quyết chiến quyết thắng”, và đây là lá cờ đầu tiên ta cắm lên nóc cứ điểm của địch. Anh Trần Can là người cắm lá cờ “quyết chiến quyết thắng” đầu tiên của chiến dịch lịch sử nhưng anh lại là người hy sinh trong ngày cuối cùng giải phóng chiến dịch.
 Sau 5 giờ 30 phút chiến đấu, Trung tâm đề kháng Him Lam bị tiêu diệt hoàn toàn (giới thiệu tổ hợp mỹ thuật trưng bày hiện vật và sa bàn diễn biến trận đánh Him Lam). Ta đã tiêu diệt hơn 200 và bắt sống hơn 300 quân Pháp thu toàn bộ phương tiện vũ khí đạn dược.
Giới thiệu với quí khách, một trong những hiện vật tiêu biểu và có giá trị được trưng bày đó là khẩu pháo 105 mm. Đây là một trong những khẩu pháo của đại đội 806 đã bắn những loạt đạn đầu tiên vào cứ điểm Him Lam. Khẩu pháo 105mm này của Mỹ sản xuất và viện trợ cho Thực dân Pháp tại chiến trường Việt Nam. Trong chiến dịch Biên Giới ta đã thu được của Thực dân Pháp và sử dụng để tiêu diệt quân Pháp tại mặt trận Điện Biên Phủ.
Để có được chiến thắng ngay trong trận đánh mở màn, ta không thể không nhắc tới sự hy anh dũng của anh Phan Đình Giót.
Khi chiến đấu giằng co với địch trên cứ điểm Him Lam, thấy quân ta tấn công mạnh,quân đội Pháp ra sức phản kích.Phía ta các chiến sỹ của Đại đội 58, tiểu đoàn 428 thuộc Trung đoàn 141 được lệnh dùng bộc phá phá hàng rào để mở của, các chiến sỹ ta thay nhau yểm trợ điểm hỏa bộc phá, lần lượt các quả bộc phá từ số 1,2,3...đều thành công và đến quả bộc phá thứ 10 thì anh Phan Đình Giót đã bị thương, tuy bị thương nặng nhưng anh vẫn kiên cường chiến đấu,đến quả bộc phá thứ 12 thì hàng rào của địch đã bị phá hủy, quân Pháp điên cuồng nhả đạn các chiến sỹ của ta không thể xông lên được nên anh Phan Đình Giót một mình một súng trận trọng dần dần tiến về phía hỏa lực địch, thời cơ đã đến anh dùng khẩu tiểu liên bắn xối xả vào lỗ châu mai rồi rướn người lao vào bịt lỗ châu mai, dập tắt hỏa điểm của địch. Anh hy sinh để lại bao tiếc thương cho đồng đội.
Thưa quý khách! Phát huy truyền thống đánh thắng trận đầu, 3 giờ 30 phút ngày 15/3/1954, ta tiếp tục tiến đánh cứ điểm đồi Độc Lập. ( giới thiệu ảnh). Cứ điểm Độc Lập nằm trên quả đồi dài 700m, rộng 150m. Vì cứ điểm này nằm tách biệt so với các cứ điểm khác nên ta đặt tên là đồi Độc Lập còn Pháp gọi cứ điểm này là Gabrien. Đây là cứ điểm được coi là có tổ chức phòng ngự tốt nhất ở ĐBP, cứ điểm này do tiểu đoàn 5, trung đoàn Angieri và 1 tiểu đoàn ngụy Thái chiếm giữ. Nhiệm vụ tiêu diệt đồi Độc Lập giao cho trung đoàn 165 của đại đoàn 312 và trung đoàn 88 của đại đoàn 308 do đồng chí Vương Thừa Vũ chỉ huy. Cuộc chiến đấu gay go và ác liệt, sau 3 giờ ta đã chiếm được cứ điểm Độc Lập , tiêu diệt 483 tên và bắt sống 200 tên, thu nhiều vũ khí, đạn dược.
  Bị mất 2 trung tâm đề kháng là Him Lam và Độc Lập, cứ điểm Bản Kéo trở nên cô lập. Sáng 17/3/1954, tin quân ta tấn công Bản Kéo càng làm cho địch trong đồn trở nên hoảng loạn. Trung đoàn 36, đại đoàn 308 bao vây chặt, dùng loa, truyền đơn kêu gọi binh lính địch ở cứ điểm Bản Kéo ra hàng. (Ảnh).  Nhiều binh sĩ ngụy đã vứt súng bỏ trốn ra rừng tìm gặp bộ đội ta. Biết không thể giữ được Bản Kéo, Đờ Cát lệnh cho Clacsam đưa tiểu đoàn ngụy Thái lui về Mường Thanh, nhưng vừa ra khỏi đồn cả tiểu đoàn này đã giương cờ trắng hàng quân ta, địch dùng pháo bắn cản đường và cho xe tăng đuổi theo chặn đường. Ta kịp thời dùng pháo bắn yểm hộ cho số hàng binh đó, xe tăng địch buộc phải rút về Mường Thanh. Trung đoàn 36 chưa cần nổ súng đã chiếm được Bản Kéo, thừa thắng tiến sâu vào chiếm luôn 1 số ngọn đồi ở phía Bắc sân bay.
  Trung tá PiRoth(Ảnh) – chỉ huy pháo binh của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã từng tuyên bố “sẽ làm câm họng pháo binh Việt Minh chỉ trong vòng 5 phút”. Nhưng sau 2 trận Him Lam và Độc Lập thì Piroth đã không thể làm “câm họng” được pháo binh Việt Minh như trước đó đã huênh hoang. Ông ta đã phải tự sát bằng trái lựu đạn để giữ gìn danh dự và Đờ Cát đã đưa tin rằng: “Trung tá Piroth đã hy sinh trên chiến trường danh dự”.       Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến dịch đầu tiên ta có pháo phòng không. Trung đoàn pháo cao xạ 367 tuy còn non trẻ nhưng đã lập nên những chiến công xuất sắc trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhà nước đã tặng huy chương quân công hạng ba cho đại đội 815, tiểu đoàn 383, trung đoàn 367, đại đoàn 351 về thành tích bắn rơi chiếc máy bay đầu tiên ở Điện Biên Phủ.    
 
3. Đợt tấn công thứ 2: Bắt đầu từ ngày 30/3 – 30/4/1954
   Bước vào đợt tấn công thứ 2, ngày 19/4/1954, Bộ chính trị đã ra nghị quyết: “Toàn dân, toàn Đảng và chính phủ nhất định đem toàn lực chi viện chiến dịch Điện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này”.
  Nhiệm vụ đợt tấn công thứ 2: là đánh chiếm các ngọn đồi phía Đông, đánh chiếm sân bay, triệt đường tiếp tế và tiếp viện, thu hẹp phạm vi chiếm đóng và vùng trời của phan khu trung tâm.
 Để thực hiện nhiệm vụ đợt tấn công thứ 2 là tiêu diệt các cao điểm phía Đông trong đó có đồi E1, Đồi A1, Đồi C1, C2, D1. Tại đồi E1 cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt kéo dài 31 ngày đêm, khẩu đội trưởng Phùng Văn Khầu đã sử dụng khẩu Sơn pháo 75mm để phá hủy 5 khẩu pháo 105mm, 6 đại liên, 1 lô cốt, 1 kho đạn, diệt hàng trăm tên địch hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện cho bộ binh chiến đấu thắng lợi. Ngày 31/8/1955, Đồng chí Phùng Văn Khầu được phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
  Trận chiến tại cứ điểm A1 là cuộc chiến đấu diễn ra gay go quyết liệt nhất trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Tại cứ điểm này Pháp bố trí  thành 3 phòng tuyến:
  + Phòng tuyến 1: Nằm sát chân đồi là tuyến phòng ngự chủ yếu phía ngoài bố trí các phân đội bộ binh, lính dù.
  + Phòng tuyến 2: Ở lưng chừng đồi là tuyến giữa có nhiệm vụ ngăn chặn. Địch bố trí nhiều hỏa lực khá mạnh như súng cối, DKZ, trọng liên.
  + Phòng tuyến 3: trên đỉnh đồi là tuyến cố thủ có cơ quan chỉ huy cứ điểm và hầm cố thủ kiên cố.
  Ngoài cùng có 5 lớp hàng rào dây théo gai dầy hơn 100m, bên dưới gài xen kẽ nhiều loại mìn với những thùng Ét xăng khô bùng cháy bằng điện. Đồi A1 có vị trí chiến lược quan trọng nhất trong dãy đồi phía Đông và là một trong những mục tiêu chủ yếu của đợt tấn công thứ 2 vào Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Trải qua 39 ngày đêm với 4 đợt tấn công, 1 đợt phòng ngự, đến 4h30 phút sáng ngày 7/5/1954 ta đã làm chủ hoàn toàn cứ điểm A1.
  Cuộc chiến đấu tại đồi C1 diễn ra ác liệt ngay từ những ngày đầu. Do trung đoàn 98, đại đoàn 316 đảm nhiệm, sau 32 ngày đêm chiến đấu ta đã chiếm được cứ điểm này tạo điều kiện cho các đơn vị bạn tiến công tiêu diệt các cứ điểm còn lại.
  * Cuộc chiến ngày càng diễn ra gay go và ác liệt, Quân ta càng đánh càng mạnh, Thực dân Pháp càng đánh càng lâm vào thế yếu, chiến trường bị cô lập thiếu thốn cả về lương thực, thực phẩm. Nhiều lính Pháp đã nhìn trước được cái kết bi ai của cuộc chiến Điện Biên Phủ, ban ngày chúng không chịu ra khỏi căn hầm của mình mà chỉ co rúm lại trong hầm suy nghĩ và hối hận về sự tham chiến của họ tại đây. Tinh thần chúng ngày một ra rời, chúng chỉ tìm đến rượu để có thể quên đi tiếng súng đạn của đối phương đang nã dồn dập về phía chúng. (Giới thiệu cụm tượng lính pháp)
* Trong đợt tấn công thứ 2 ta đã cắt đứt được đường tiếp tế tiếp viện của quân Pháp, dẫn tới quân Pháp tại Điện Biên Phủ thiếu thốn trầm trọng về lương thực, thực phẩm. Trên đây là toàn bộ những bức ảnh tả cảnh Tây khổ tại chiến trường Điện Biên Phủ, chúng phải sống trong những căn hầm, nhà thương nhầy nhụa bùn lầy và xác chết, một tai họa đến với chúng lúc này là nạn ruồi và giòi bọ, ruồi và giòi bọ phát sinh từ nhà xác, tràn vào nhà thương, đẻ trứng lên vách hầm, thậm chí đẻ cả vào vết thương của binh lính Pháp, nhiều tên lính Pháp không chịu đựng được chúng đã đào ngũ, chúng đào những hàm ếch ven bờ sông Nậm Rốm, ban ngày trốn vào đó, ban đêm mò ra để lấy trộm những kiện dù hàng quân Pháp thả xuống, sử dụng còn thừa lại đem bán cho đồng đội với giá đắt cắt cổ.
  * Trái ngược với tình cảnh khốn khổ của quân Pháp về phía ta được chi viện cả về vật chất lẫn tinh thần chính vì vậy đã tạo niềm tin chiến thắng cuối cùng của quân và dân ta trong toàn chiến dịch.
    Tại cứ điểm 206, Sau những chiến thắng giòn giã của đợt tấn công thứ 1 quân ta tạm ngưng một thời gian để tiếp tục mở các chiến hào bao vây. Đánh lấn là 1 trong những chiến thuật đặc biệt mà ta sử dụng trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Bộ đội ta đã dùng những “con cúi” bện bằng rơm dài 2 mét, đường kính 1.5 mét để che chắn đạn bắn thẳng, bảo đảm an toàn cho những người nằm ở phía sau đào chiến hào lấn dần về phía địch. Đến cự ly thích hợp, bộ đội ta đã dùng lựu pháo đánh chiếm một số lô cốt địch rồi chọn thời cơ thích hợp bất ngờ nổ súng tiến công, khiến địch không kịp trở tay. Tuy nhiên, khi vào gần cứ điểm thì “con cúi” lại khiến cho vị trí của quân ta lộ ra. Vì vây, các chiến sĩ lại có sáng kiến “đào dũi”, tức đào ngầm dưới xuyên qua rào kẽm gai và bãi mìn của địch vào tận trong cứ điểm rồi đội đất bật lên mà đánh. Kết quả, bộ đội ta đã chiếm được nhiều lô cốt địch, bắt sống 177 tên, chia cắt quân địch. Kẻ địch rất ngán ngại và lo sợ lối đánh này vì chúng phải ở trong trạng thái thường xuyên căng thẳng, không biết bị đánh lúc nào mà đối phó. Lợi dụng dịp này, bộ đội ta đã nhanh chóng thu dọn chiến trường và củng cố lại công sự.
  * Quân y:
Để đảm bảo tốt sức khỏe cho bộ đội và dân công trong chiến dịch lớn, dài ngày ở chiến trường miền núi, thời tiết khắc nghiệt, điều kiện nuôi dưỡng khó khăn là một nhiệm vụ đòi hỏi sự cố gắng lớn của ngành quân y. Bộ chỉ huy chiến dịch yêu cầu: “Tăng cường phòng bệnh và cải thiện sinh hoạt để giữ sức khỏe cho bộ đội.” Để thực hiện tốt công tác cứu chữa thương binh ta đã xây dựng một hệ thống hầm hào, chống được phi pháo tương đối an toàn cho việc cứu chữa, nắp hầm lát các cây gỗ to trên phủ một lớp đất, cột chống đỡ hầm lớn, có giường nằm bằng cây, lót lá, vải và ni lông. Mọi hoạt động chuyên môn, sinh hoạt của cán bộ, nhân viên và thương binh, bệnh binh đều ở dưới hầm.
Các thầy thuốc nổi tiếng như Bác sĩ Vũ Đình Tụng bộ trưởng bộ y tế, bác sĩ Tôn Thất Tùng thứ trưởng bộ y tế cũng tham gia chiến dịch, trực tiếp cứu chữa thương binh ở bệnh viện mặt trận. Đối diện có trưng bày những dụng cụ ta đã sử dụng cứu chữa thươngbinh, bệnh binh trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
  Đối lập với ta, quân Pháp trong đợt tấn công thứ hai đã rơi vào tình trạng thiếu thốn trầm trọng về lương thực, thuốc men, dụng cụ y tế để cứu chữa thương binh, bệnh binh. Công tác vệ sinh cho bệnh nhân không được đảm bảo. Các hầm cứu thương của Thực dân Pháp được dựng ngay tại chiến hào của chúng. Các thương bệnh binh trong hầm bị nhồi nhét với tiếng rên la thẩm thiết. Các bác sỹ của Pháp phải phẫu thuật cho thương binh ngya tại căn hầm nhầy nhụa xác chết và dòi bọ. (giới thiệu hầm quân y của Pháp)
  Hộp hình thể hiện những giây phút nghỉ giải lao của bộ đội ta trong các chiến hào: Đọc thư báo tin cải cách ruộng đất ở quê hương, có chiến sĩ thổi Acmonica cho đồng đội thư giãn.
  Giới thiệu với quý khách mô hình bếp Hoàng Cầm, bếp Hoàng Cầm ra đời trong chiến dịch Hòa bình năm 1951, mang tên chính tác giả. Tác dụng của chiếc bếp là tránh khói và tránh phi pháo, đằng sau những chiếc bếp ta đào nhiều rãnh thoát khói, trên mặt rãnh phủ lớp cây mỏng, trên cùng phủ đất ẩm, khi khói lan tỏa giống như làn sương sớm.
  3. Đợt tấn công thứ 3: Từ ngày 1/5 – 7/5/1954.
Nhiệm vụ của đợt tấn công thứ ba là ta tiêu diệt các cứ điểm còn lại, chớp thời cơ tổng công kích trên toàn chiến dịch.
  Trong đợt tấn công thứ ba 12 dàn hỏa tiễn H6 của ta đã xuất trận. Trưa ngày 1/5/1954, các cỗ pháo của ta dội xuống trận địa của địch, đến chiều ngày 6/5/1954, 12 dàn hỏa tiễn Cachiusa yểm trợ cho cuộc tấn công lên cao điểm A1 và chế áp các trận địa pháo địch. Tuy đến gần cuối chiến dịch mới xuất hiện nhưng sức mạnh hỏa lực của H6 đã góp phần quyết định làm suy sụp tinh thần quân địch, buộc địch phải nhanh chống đầu hàng. Trong ba ngày đầu của đợt tấn công thứ 3 quân ta đã chiến đấu anh dũng và sáng tạo, hoàn thành tất cả các nhiệm vụ được giao.
  Đến 17h30 phút ngày 7/5/1954, lá cờ Quyết chiến, quyết thắng của quân đội ta đã tung bay trên nóc hầm tướng De Castries giữa chiều hè tháng 5 lịch sử, báo hiệu giờ chiến thắng. ta truy quét số tàn binh còn lại, đến 24h ngày 7/5/1954 chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc toàn thắng. Trong lịch sử chiến tranh Việt Nam chưa có trận đánh nào ta bắt được số lượng tù binh lớn đến như vậy – Hơn 10.000 tên.
  Giới thiệu với quý khách trong chiến dịch Điện Biên Phủ ta đã thu được những chiến lợi phẩm: Bồn tắm, bàn ghế làm việc, điện thoại của tướng De Castries, trong tủ kính có trưng bày toàn bộ quân tư trang của lính Pháp.
Phần IV: Thế giới ca ngợi chiến thắng Điện Biên và tác động đối với trong nước và quốc tế.
Sau chín năm kháng chiến với tinh thần “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, sức mạnh của dân tộc ta và của thời đại đã hội tụ về Ðiện Biên Phủ để làm nên một chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, đuổi quân đội viễn chinh Pháp ra khỏi bán đảo Ðông Dương, mở đầu sự sụp đổ không gì cứu vãn nổi của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới. Bởi lẽ đó, chiến thắng Ðiện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam được thế giới hết lòng ca ngợi. (giới thiệu ảnh).
60 năm trôi qua, Chiến thắng Ðiện Biên Phủ năm 1954 vẫn mãi trong lòng bè bạn thế giới. Sự ngợi ca của nhân dân thế giới về Chiến thắng Ðiện Biên Phủ không chỉ khẳng định sự đồng tình ủng hộ của họ đối với cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, mà trên hết đó là lòng ngưỡng mộ, sự khâm phục và tự hào về chiến công của dân tộc Việt Nam. Việc phát huy bài học kinh nghiệm về tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân thế giới trong cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam cần được vận dụng sáng tạo trong cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần xây dựng thành công một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ mong đợi lúc sinh thời.
Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ có một ý nghĩa lịch sử to lớn có tác động quyết định đối với cả hai phía mà không một chiến dịch nào đạt tới trong lịch sử cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống Pháp. Với nhân dân ba nước Đông Dương, chiến thắng Điện Biên Phủ là thành quả của tinh thần đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung. Sự nghiệp cách mạng của ba nước có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời. Chính vì vậy, "Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là thắng lợi của quân đội và nhân dân Việt Nam mà còn là thắng lợi chung của nhân dân các nước Đông Dương", ghi một trang mới trong lịch sử của nhân dân bị áp bức". Điện Biên Phủ thực sự là bản giao hưởng hòa bình của mọi thời đại. Thắng lợi Điện Biên Phủ cùng với các chiến thắng khác trên chiến trường Đông Dương đã dẫn đến thành công của Hội nghị Giơ-ne-vơ. Thực dân Pháp buộc phải thừa nhận chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương. Có thể nói, chiến thắng Điện Biên Phủ đã mở ra một kỷ nguyên mới cho ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương.(giới thiệu ảnh).
Đối với các nước thuộc địa trên thế giới thì chiến thắng Điện Biên Phủ như là “tiếng sấm” làm thức tỉnh các dân tộc bị áp bức vùng dậy đấy tranh để giải phóng dân tộc, giải phóng con người.
Phần V. Phòng tôn vinh
Sáu mươi năm đã trôi qua, có nhiều cách liên tưởng về sự kiện Điện Biên Phủ. Dù thời gian có làm mờ dấu chân của người lính trên chiến trường năm xưa, nhưng có một điều chắc chắn rằng, Điện Biên Phủ vẫn mãi là niềm tự hào, là nguồn cổ vũ lớn lao đối với dân tộc Việt Nam trên bước đường chấn hưng đất nước hôm nay. Để tôn vinh chiến thắng Điện Biên Phủ và tri ân những con người “thân chôn làm giá súng, đầu bịt lỗ châu mai, oằn lưng kéo pháo”, Bảo tàng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã dành riêng không gian để tôn vinh chiến thắng Điện Biên Phủ.
Chiến thắng LS ĐBP, gắn liền với tên tuổi của Đại tướngVõ Nguyên Giáp - người nắm quyền tổng chỉ huy cao nhất của chiến dịch. Ông được TW Đảng và Bác Hồ tin tưởng giao nhiệm vụ quyết định chiến lược trận đánh. Vị tướng trẻ tuổi nhất trong lịch sử VN sinh năm 1911 quê Quảng Bình ấy đã có những quyết định táo bạo và bất ngờ, nhưng có lẽ quyết định trọng đại nhất vẫn là quyết định thay đổi chiến lược từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc". Theo như lời tâm sự của Đại tướng với phóng viên: "Đây là một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời cầm quân của tôi". Sau bao ngày trăn trở với những đêm không ngủ, qua nhiều lần họp bàn với BCH CD, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đưa ra quyết định cuối cùng mang tính chiến lược vào ngày 26/1/1954. Quyết định đó đã thay đổi cục diện chiến tranh giữa ta và Pháp, và đi đến kết thúc chiến dịch toàn thắng. (giới thiệu tượng Đại tướng Võ Nguyên Giáp).
Không chỉ dừng lại ở đó, chiến thắng Điện Biên Phủ còn là sự hiệp đồng của các đại đoàn quân chủ lực và lực lượng thanh niên xung phong, lực lượng dân công  tham gia phục vụ chiến dịch. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ có 5 đại đoàn tham gia đó là Đại đoàn 312, đại đoàn 304, đại đoàn 316, đại đoàn 308, đại đoàn 351. Mỗi đại đoàn có một nhiệm vụ riêng, nhưng dưới sự chỉ huy của Bộ chỉ huy chiến dịch, các đại đoàn đã hiệp đồng trong chiến đấu, cùng nhau bóc dần từng lớp vỏ cứng của Tập đoàn Điện Biên Phủ. (Giới thiệu các đại đoàn)
Trong chiến dịch, Đảng và Nhà nước ta đã phong tặng và truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho 31 anh hùng. Đây là phần thưởng cao quí mà Đảng và Nhà nước muốn tri ân đến các anh – những con người mãi mãi để lại tuổi thanh xuân tại mảnh đất cực Tây Bắc của Tổ quốc. 
 
 
 
 KHU DI TÍCH HẦM DE CASTRIES
 
Kính thưa quý khách!
Sau khi Quân đội viễn chinh hoàn thành cuộc nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ, Navarre (Tổng chỉ huy Quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương) và các nhà bình luận quân sự phương Tây đã đánh giá và cân nhắc kĩ lưỡng vị trí chiến lược của Điện Biên Phủ, là vùng có vị trí chiến lược quan trọng không chỉ ở Đông Dương mà cả đối với cả khu vực Đông Nam Á, một trục giao thông liên hoàn nối liền bốn quốc gia: Lào, Thái Lan, Miến Điện, Trung Quốc. Bàn xoay có thể xoay ra bốn hướng từ đó có thể bảo vệ được Thượng Lào và đánh chiếm ra các vùng đã mất ở Tây Bắc. Hơn nữa Điện Biên Phủ lại có một cánh đồng Mường Thanh bằng phẳng, rộng lớn và trù phú. Ngày 3/12/1953 Tướng Navarre quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với quân chủ lực Việt Minh và đến ngày 6/12/1953 Thực dân Pháp đã bắt tay ngay vào xây dựng Điện Biên Phủ thành một Tập đoàn cứ điểm mạnh nhất chưa từng có ở Đông Dương, một Tập đoàn quân sự khổng lồ với 3 phân khu, 49 cứ điểm và phân thành 8 cụm. Mỗi cụm cứ điểm là một hệ thống binh lực, hỏa lực mạnh được ưu tiên bảo vệ bởi những loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại và có thể yểm trợ lẫn nhau khi cần thiết. Bao quanh mỗi cụm cứ điểm là những hệ thống chiến hào ngang dọc chìm nổi phức tạp, những hàng rào dây thép gai dày đặc từ hàng chục mét trở lên xen kẽ bởi những bãi mìn, Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ trở thành “Cỗ máy nghiền thịt khổng lồ”, một “ Nhọt tụ độc”  để thu hút quân chủ lực Việt Minh.
Phân khu Trung tâm là phân khu quan trọng nhất bao gồm 5 cụm cứ điểm: Huguette, Claudine. Eliane, Dominique, Beatrice và cơ quan sở chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Hai phần ba số lượng quân Pháp với các cứ điểm liên kết với nhau tạo thành một khối rắn chắc tại phân khu Trung tâm. Trung tâm chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được bao bọc, yểm trợ bởi các cụm cứ điểm, trận địa pháo, kho hậu cần, sân bay, phía Đông có cả một hệ thống cao điểm rất lợi hại như: đồi A1, C1, C2, D1, E1, 4 chiếc xe tăng được bố trí tại đây và luôn trong tình trạng báo động sẵn sàng chiến đấu. Phía Tây Nam là trận địa pháo dàn hàng ngang để bảo vệ. Đó là những “Lớp áo giáp”, “Cánh cửa thép” hay “Thiên thần gác cửa” mà quân Pháp đề cao trong ngôn từ thực dân để bảo vệ Sở chỉ huy của mình.
Súng trọng liên 4 nòng.
Thưa quý khách!
Đây là loại vũ khí bắn tầm xa, cỡ lớn, súng máy phòng không 14,5mm gồm: thân súng, giá súng và bộ phận ngắm. Trọng lượng súng 590kg, tầm bắn hiệu quả 2000m, trọng lượng viên đạn 200g, tốc độ bắn thực tế 300 phát/phút. Mỗi khẩu có từ 1 đến 4 nòng có thể phát hỏa cùng lúc, với cấu tạo đặc biệt có mâm xoay đảm bảo súng có thể quay 360 độ trong mặt phẳng bắn. Loại hỏa lực này được ví như là “lưới lửa tự động” sẵn sàng thiêu cháy đối phương ngay từ vòng ngoài nên Pháp đã bố trí hai  khẩu trọng liên ở đầu cầu Mường Thanh để bảo vệ trung tâm Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
16h  ngày 7/5/1954 các pháo thủ của Đại đội 360, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 và pháo của Đại đoàn công pháo 351 tiêu diệt khẩu trọng liên 4 nòng này.
Di tích cầu Mường Thanh.
Kính thưa quý khách!
Trước mặt chúng ta đây là di tích Cầu Mường Thanh, một cây cầu do Pháp dựng lên, bắc qua dòng sông Nậm Rốm. Thực dân Pháp gọi là cầu “Prenley” là một công trình quân sự nằm trong phân khu Trung tâm của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đây là cây cầu dã chiến được làm sẵn và vận chuyển từ nước Pháp sang, lắp ghép tại Điện Biên Phủ. Cầu dài 40m, rộng 5m, hai bên thành cầu là những thanh sắt chống đỡ đơn giản không có trục giữa, sàn cầu lát bằng gỗ, dưới là những thanh dầm bằng sắt được liên kết với nhau rất chắc chắn đảm bảo trọng tải từ 15 đến 18 tấn. Đây là cây cầu sắt duy nhất lúc bấy giờ được Pháp bắc qua dòng sông Nậm Rốm, là một huyết mạch rất quan trọng để  nối giữa các cứ điểm ở phía Tây sông Nậm Rốm với các cao điểm phía đông của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, là đường vận chuyển thực phẩm, nguyên vật liệu, đạn dược, dây thép gai phục vụ cho việc xây dựng các cứ điểm phòng ngự ở khu vực phía Đông. Tại đây đã từng diễn ra một cuộc chiến vô cùng ác liệt giữa Quân đội Việt Nam và Quân viễn chinh Pháp, cây cầu này đã từng chứng kiến sự  hy sinh, đổ máu của cả hai bên, đã có hàng ngàn người ngã xuống nơi đây.
Để đảm bảo an toàn cho cây cầu, ở phía Đông thực dân Pháp bố trí các cứ điểm 507, 508 và 509 và đặc biệt là ngay đầu cầu phía Tây, Pháp bố trí hai khẩu trọng liên 4 nòng án ngữ để đề phòng đối phương tấn công vượt qua cầu tiến vào căn hầm chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Với cách bố trí lực lượng như vậy, De Castries hi vọng giữ vững cây cầu, giữ vững cửa ngõ tiếp viện cho các cao điểm phía Đông và Đông Bắc Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Trong đợt tổng công kích tấn công tiêu diệt toàn bộ các cao điểm phía Đông, 4 giờ 30 phút sáng ngày 7/5/1954 quân ta đã tiêu diệt toàn bộ cứ điểm A1, và xóa sổ cứ điểm 506 ở phía Bắc Mường Thanh, ở phía Tây Đại đoàn 308 chiếm được cứ điểm 310 đưa trận địa của ta tiến sát vào hầm chỉ huy của De Castries. Đúng 8h sáng ngày 7/5/1954, các chiến sĩ Đại đội 360 thuộc Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 bắt đầu đánh chiếm cầu Mường Thanh, hỏa lực của khẩu trọng liên 4 nòng liên tục xoay càng nhả đạn, cuộc chiến diễn ra vô cùng ác liệt nhưng ta chưa thể chiếm được cầu Mường Thanh. Đến 14 giờ ngày 7/5/1954, Trung đoàn 209 tiếp tục mở cuộc tấn công vào cứ điểm 507 ở gần cầu Mường Thanh, hỏa lực hai bên bắn ra dữ dội, tạo thành những làn đạn cài răng lược, lúc này cả hai bên bị thương vong lớn, hàng trăm chiến sỹ của ta đã nằm xuống bên kia đầu cầu Mường Thanh. Sau khi chiếm được cứ điểm 507 Đại đoàn 312 tiếp tục tiêu diệt hai cứ điểm còn lại 508, 509 ở tả ngạn sông Nậm Rốm.
Chiều 7/5/1954 nhận thấy quân Pháp hoang mang có nhiều biểu hiện rối loạn, có khả năng đầu hàng, ném vũ khí xuống sông nổi bọt trắng xóa, 15h ngày 7/5/1954 Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh mở cuộc tổng công kích vào Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. 17 giờ 15 phút, Trung đoàn 209 của Đại đoàn 312 vượt cầu Mường Thanh để tiến sát vào sở chỉ huy địch. Trung đội trưởng Chu Bá Thệ phát hiện trên hầm De Castries có cờ trắng, Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật dẫn đầu tổ xung kích tiến thẳng vào khu Trung tâm, trên đường tấn công bị hỏa lực của trọng liên 4 nòng bảo vệ cầu Mường Thanh bắn ra chặn đường tấn công của quân ta, các chiến sĩ không quản hy sinh đã dũng cảm ngoan cường chiến đấu dập tắt hỏa điểm trọng liên 4 nòng và nhanh chóng vượt qua làn đạn dày đặc tiến lên, Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật cùng các chiến sĩ tổ xung kích vượt qua cầu Mường Thanh tiến thẳng vào sở chỉ huy địch, bắt sống tướng De Castries cùng toàn bộ tham mưu của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Thưa quý khách! Hơn 60 năm đã trôi qua, cây cầu Mường Thanh vẫn bắc qua dòng sông Nậm Rốm, một con sông hiền hòa, không ai nghĩ nó đã từng bị nhuộm đỏ bởi biết bao xương máu của cả hai bên ta và Pháp. Giờ đây Di tích cầu Mường Thanh cùng với những di tích khác thuộc Di tích chiến trường Điện Biên Phủ nằm sừng sững giữa cánh đồng Mường Thanh sẽ mãi là những minh chứng cho sự thất bại của Quân đội viễn chinh Pháp trên trường Điện Biên Phủ cũng như sự sụp đổ hoàn toàn của Chủ nghĩa thực dân trên toàn Đông Dương và đây là cây cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, nối giữa chiến tranh và hòa bình sẽ vẫn từng ngày, từng giờ chứng kiến sự thay da đổi thịt của mảnh đất Điện Biên Phủ anh hùng. Bởi ý nghĩa vô cùng quan trọng ấy hiện nay di tích cầu Mường Thanh vẫn được quan tâm gìn giữ để du khách có thể đến tham quan và chiêm ngưỡng.
 Giới thiệu xe tăng.
Thưa quý khách!
Trong số những loại phương tiện vũ khí chiến tranh hiện đại Pháp sử dụng ở chiến trường Điện Biên Phủ có 10 chiếc xe tăng, Những xe tăng này thuộc dòng xe M24 mang tên Charfee, là loại xe tăng hạng nhẹ do Mỹ chế tạo năm 1943 và được đưa vào sử dụng trong Thế chiến thứ hai và Pháp đưa vào sử dụng ở chiến trường Đông Dương , dòng xe này được đặt tên theo tên của Thiếu tướng Lục quân Hoa Kỳ Adna R.Chaffee người được mệnh danh là "Cha đẻ của lực lượng thiết giáp Hoa Kỳ”. Mỗi xe có trọng tải từ 16 đến 18 tấn, 10 chiếc xe tăng được tháo rời và vận chuyển bằng cầu hàng không từ sân bay Cát Bi (Hải Phòng) lên sân bay Mường Thanh. Có một đội công binh chuyên lắp ráp, cứ sau bốn ngày thì đội công binh này lắp xong một chiếc. 10 chiếc xe tăng được biên chế thành một Đại đội với 3 phân đội, trong đó một xe chỉ huy, tại Trung tâm Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ Pháp bố trí 8 xe tăng, 2 xe tăng còn lại được bố trí tại phân khu Nam. Mỗi xe tăng đều được đặt một tên riêng: Bazeille, Ettlingen, Posen, Smolensk, Auerstaedt, Ratisbonne, Neumach, Conti, Mulhouse, Douaumont. Những tên này do lính Lê Dương đặt mang tên địa danh của những ngôi làng, thị trấn nổi tiếng của nước Pháp, Ba Lan, Đức, để họ tưởng nhớ tới quê hương mình.
Kết thúc trận chiến ở Điện Biên Phủ, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiêu diệt 8 xe tăng, thu được 2 chiếc còn nguyên vẹn được vận chuyển đến các chiến trường khác.  
Xin giới thiệu với quý khách đây là chiếc xe tăng Conti,  là xe tăng chỉ huy của Đại đội xe tăng có nhiệm vụ bảo vệ Sở chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị đạn pháo của Đại đoàn công pháo 351 bắn cháy vào 16h45 phút ngày 7/5/1954.
 Giới thiệu máy bay.
Thưa quý khách!
Không quân là lợi thế của Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ,  trong khi Quân đội Nhân dân Việt Nam không có không quân, tạo nên sự chênh lệch lực lượng lớn giữa Quân đội Việt Nam và Quân viễn chinh Pháp.
Đầu năm 1954 máy bay Pháp ở Đông Dương lên tới 350 chiếc các loại: Máy bay vận tải (Dakota C47, Packet C119); Máy bay chiến đấu (Trinh sát, khu trục, tiêm kích, cường kích). Tại Điện Biên Phủ Pháp có hai sân bay, sân bay Mường Thanh và sân bay Hồng Cúm (dự bị). Sân bay Mường Thanh được Navarre đánh giá là sân bay tốt nhất Đông Nam Á, là “đầu mối tuyệt vời” của cầu hàng không Hà Nội - Điện Biên Phủ và nó đã trở thành  “Dạ dày” của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Để bảo vệ Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, Pháp đã ưu tiên sử dụng tất cả những loại máy bay chiến đấu hiện có lúc bấy giờ dưới sự chỉ huy của viên Thiếu tá Guerin (Ghê-ranh).
Trong thư gửi cho Bộ trưởng các quốc gia liên kết Mac Jacquet (Mác Giắc- kê), Navarre nhấn mạnh: “Tôi yêu cầu Chính phủ hãy tăng cường không quân cho Điện Biên Phủ, ta sẽ thắng hay thua trong trận Điện Biên Phủ là do không quân” Các giới quân sự Pháp và Mỹ đều tin tưởng rằng Navarre sẽ làm nên một trận chiến lịch sử, giành thắng lợi lớn nhờ không quân.Để đảm bảo chắc thắng trong trận Điện Biên Phủ thực tế Pháp đã tập trung hầu hết không quân chiến đấu và không quân vận tải cho cuộc chiến này.
Đối thủ của không quân Pháp lúc bấy giờ là lực lượng pháo cao xạ, nhưng còn quá ít ỏi, trực tiếp tham gia chiến dịch chúng ta chỉ có 24 khẩu cao xạ 37mm, 60 khẩu trọng liên 12,7mm. Bố trí trên các tuyến đường hiểm yếu từ hậu phương ra tiền tuyến để bảo vệ giao thông vận tải được xuyên suốt chỉ có 36 khẩu 37mm và 50 khẩu trọng liên 12,7mm. Nếu đưa ra để so sánh, chỉ riêng số hỏa lực mạnh trên máy bay chiến đấu của Pháp đã nhiều hơn gấp 6 lần toàn bộ đầu pháo cao xạ 37mm của ta.
Qua đây cho thấy sự chênh lệch lượng giữa ta và Pháp rất lớn, Ngày 13/3/1953 ta nổ súng tấn công vào Trung tâm đề kháng Him Lam mở màn cho chiến dịch Điện Biên Phủ, cùng với lựu pháo 105 mm, pháo cao xạ 37mm của Trung đoàn cao xạ 367 bất  thần xuất hiện, làm quân lính Pháp bất ngờ và choáng váng, ngay ngày đầu tiên ta đã phá hủy được máy bay của Pháp.
Thưa quý khách! Bên cạnh đây là xác máy bay khu trục bị Sơn pháo 75mm của Trung đoàn pháo binh 675 phá hủy lúc 17h10 phút ngày 13/3/1954.
Ngày 14/3/1954 Đại đội 815 Tiểu đoàn 383 đã bắn rơi chiếc máy bay đầu tiên của Pháp trên bầu trời Điện Biên Phủ. Trong 5 ngày đầu của chiến dịch, hai Tiểu đoàn 383 và 394 đã lập công xuất sắc và bắn rơi 14 máy bay, 25 chiếc bị thương. Có thể nói chưa bao giờ và chưa ở nơi nào trong cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta lại có những cảnh tượng bắn máy bay hào hùng như trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Kết thúc chiến dịch ta đã bắn rơi và phá hủy được 62 máy bay các loại, riêng Trung đoàn cao xạ 367 bắn rơi 52 chiếc, bắn bị thương 153 chiếc, bắt sống 4 phi công Pháp.
Đầu tháng 5/1954,Mỹ tăng cường chi viện thêm 150 máy bay, thậm chí Bộ trưởng Quốc phòng Pháp quyết định ném tất cả số máy bay vận tải còn lại cho Navarre, tính đến thời điểm này không quân của Pháp gần như đã “Vét cạn túi” dốc toàn bộ cho cuộc chiến ở Điện Biên Phủ, nhưng kết quả của trận chiến này phần thắng vẫn thuộc về Quân đội của tướng Giáp.
Thưa quý khách!
Tuy có sự tương quan lực lượng rất lớn, nhưng bằng ý chí kiên cường bền bỉ, sự thông minh, sáng tạo của các chiến sỹ Quân đội Nhân dân Việt Nam cùng với sự lãnh đạo, chỉ huy tài tình sáng suốt của Đảng ủy và bộ chỉ huy mặt trận đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lực lượng pháo phòng không tuy còn non trẻ nhưng đã vượt qua những khó khăn, với lối đánh sáng tạo đã chiến thắng được quân đối phương với sức mạnh kỹ thuật vật chất cao hơn gấp nhiều lần.
Hầm De Castries
Ngày 20/11/1953, những đơn vị lính dù tinh nhuệ của Quân đội viễn chinh Pháp nhảy dù xuống cánh đồng Mường Thanh chiếm đóng Điện Biên Phủ, cuộc hành quân này mang tên Caxtor đã được chuyển thành Binh đoàn tác chiến Tây Bắc, gọi tắt là PC GONO (Poste de Commandement du groupe Operational de Nord- Ouest).
Hầm De Castries là tên thường gọi của nhân dân địa phương để chỉ căn hầm làm việc của Bộ chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, trong đó có viên tướng tổng chỉ huy là De Castries.
Hầm De Castries là công sự kiên cố nhất được coi là “trái tim”,  “linh hồn” của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Cơ quan tổng hành dinh này được đặt ở vị trí trung tâm và được ưu tiên xây dựng bằng những vật liệu vững chắc nhất lúc bấy giờ, hầm được thiết kế xây dựng có khả năng chống chọi với các loại hỏa lực của đối phương. Mái hầm được lợp bởi những tấm thép uốn sóng, trên phủ thân cây và bao tải cát, mái hầm lởm chởm ăng ten và điện đài, dưới lớp thép là tấm ghi và phiến gỗ tròn do quân Pháp dỡ nhà, phá bản của dân mang về. Bao quanh phía ngoài Sở chỉ huy là hàng rào dây thép gai và mìn cài dày đặc. Từ ngoài đi vào Sở chỉ huy chỉ có một con đường duy nhất rộng khoảng gần 1m ngoằn nghoèo qua các bãi mìn, hệ thống hỏa lực bố trí ở các boong ke lúc nào cùng sẵn sàng nhả đạn vào con đường này. Ở bốn hướng là 4 chiếc xe tăng luôn túc trực như bốn chiếc lô cốt di động nhằm bảo vệ một cách tối đa cho Sở chỉ huy, đặc biệt phía Tây nam là trận địa pháo dàn hàng ngang để bảo vệ. Bao bọc xung quanh Sở chỉ huy là 4 cụm cứ điểm được bố trí phòng vệ hết sức nghiêm ngặt: Phía Đông là cụm Dominique; phía Tây là cụm Claudine, phía Bắc là cụm Huguette, Anne Marie, Gabrienlle, phía Nam là cụm Isabelle. Đó là những “lớp áo giáp”, “cánh cửa thép” hay “thiên thần gác cửa” mà quân đội Pháp đề cao trong ngôn từ thực dân để bảo vệ Sở chỉ huy của mình.
Tại căn hầm này De Castries đã đón tiếp khá nhiều các quan chức cấp cao của Anh, Pháp, Mỹ; các nhà văn, nhà báo của làng báo chí phương tây. Cũng tại nơi đây Bộ chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ngày đêm bàn mưu tính kế hòng tiêu diệt quân chủ lực của ta và cũng chính tại đây De Castries đã phải điên đầu nát óc trước những cuộc tấn công của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam, mục tiêu đánh chiếm và bắt sống Bộ chỉ huy đối phương là mục tiêu quan trọng và quyết định đi đến thắng lợi của chiến dịch. Đến 15h ngày 7/5/1954, sau khi nhận lệnh tổng công kích trên toàn mặt trận Điện Biên Phủ các Đại đoàn chủ lực của ta tiến thẳng vào phân khu Trung tâm, bao vây và tiêu diệt toàn bộ Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bắt sống tướng De Castries cùng toàn bộ Bộ tham mưu của ông ta.
Năm 1962 Sở chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được Nhà nước xếp hạng Di tích cấp quốc gia, năm 2009 được xếp hạng Di tích cấp quốc gia đặc biệt. Để gìn giữ, khai thác và phát huy được giá trị của Di tích chiến trường Điện Biên Phủ nói chung và Di tích Hầm De Castries nói riêng di tích này đã qua nhiều lần trùng tu tôn tạo và được đưa vào phục vụ khách tham quan du lịch.
Sau đây, mời quý khách tham quan thực tế !
Căn hầm có hai cửa, một cửa quay hướng Đông, một cửa quay hướng Nam với chiều dài 20m, chiều rộng 8m, cao hơn 2m được chia thành 4 ngăn với các bức tường ngăn dày gần 1m, giữa là một hành lang chạy dọc. Khi De Castries và Bộ tham mưu của Pháp còn ở đây tường hầm có áp thêm các tấm ván gỗ căng vải dù để chống ẩm, có hệ thống thoát nước ra sông Nậm Rốm. Gian nào cũng có giường gấp, bộ bàn ghế gấp, và được trang bị những trang thiết bị tiện nghi, hiện đại.
1.     Ngăn thứ nhất
Thưa quý khách!
Bên trái lối vào là gian làm việc của Thiếu tá Lê Ốt và Đại úy Mê Hay, Tham mưu phó Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Bên phải lối vào là nơi làm việc của Trung tá Charles Piroth
Từ thời Napoleon, nước Pháp đã tự hào về pháo binh của mình. Trong cuộc chiến tại Điện Biên Phủ, Pháp muốn biến Điện Biên Phủ thành Verdon thứ hai và họ đã quyết định chọn cho De Cattries một viên chỉ huy pháo giỏi với những kinh nghiệm dày dặn, đó là Trung tá Charles Piroth. Piroth đã từng bị mất cánh tay trái trong một trận đánh tại Ý năm 1943, và vẫn được giữ lại trong quân đội vì những kinh nghiệm chuyên môn giỏi của mình. Theo đánh giá của Pháp, Piroth là sự bổ xung tuyệt vời cho De Castries.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Pháp đã tính toán rất kỹ lưỡng, bố trí một trận địa pháo 155 mm (được mệnh danh là "Vua chiến trường") tại Trung tâm Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và huy động 2 đơn vị pháo 105 mm tại Trung tâm Mường Thanh và Hồng Cúm, các trận địa pháo có thể phát huy hỏa lực chi viện cho tất cả các cứ điểm. Ngoài các loại pháo lớn, là hỏa lực đáng tin cậy còn có các loại súng cối hạng nặng như: Cối 120 mm, cối 81 mm, súng đại liên, trọng liên… Theo cách đánh giá của phương Tây, khu Trung tâm Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ chỉ rộng khoảng 2,5 km2 đã có tới 12 khẩu 105mm, 4 khẩu 155mm, 24 súng cối 120mm và cối 81mm và một số dự trữ đạn dược đồ sộ (tương đương từ 6 đến 9 cơ số đạn trước trận đánh) là quá mạnh.
Khi ngài Bộ trưởng các quốc gia liên kết Mark Jacket lên thị sát Điện Biên Phủ đã gợi ý sẵn sàng chi viện thêm pháo, nhưng Piroth từ chối vì quá tin tưởng vào sức mạnh thần thánh của những khẩu pháo dưới sự chỉ huy của ông ta và đảm bảo rằng “24 khẩu pháo 105mm sẽ dư sức đối mặt với bất kì loại vũ khí nào của Việt Minh và 4 khẩu pháo 155mm sẽ hoàn toàn dập tắt những gì chưa bị phá hủy”, Piroth còn huênh hoang tuyên bố: "Pháo binh ở Điện Biên Phủ thế này là quá mạnh rồi. Nếu pháo binh Việt Minh vào đây tôi xin lấy danh dự thề rằng chỉ cần 5 phút tôi sẽ khóa họng pháo Việt Minh lại".
Trong đợt tấn công đầu tiên vào Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, các cỡ pháo của ta đồng loạt nhả đạn vào cứ điểm Him Lam. Những giờ đầu, quân ta nhanh chóng chiếm được cứ điểm này, cũng không mấy khó khăn hai ngày sau ta đã tiêu diệt cứ điểm Độc Lập, đến ngày 17/3/1954 đã chiếm luôn cứ điểm Bản Kéo, mở toang cánh cửa phía Bắc vào Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, uy hiếp nghiêm trọng sân bay Mường Thanh, giáng một đòn choáng váng vào tinh thần binh lính địch. Trong trận đánh mở màn, từ các triền núi trên cao xung quanh lòng chảo, các khẩu pháo của ta đã khiến các khẩu pháo uy lực của quân viễn chinh Pháp trở nên vô tác dụng, Piroth không thể xác định chính xác vị trí các khẩu pháo của quân đối phương để bắn trả. Bất lực, xấu hổ với những lời nói huênh hoang Piroth đã tự sát bằng quả lựu đạn trong chính căn hầm chỉ huy trận địa pháo của mình ở phía bên kia cầu Mường Thanh vào đêm 15/3/1954. Ngay khi nhận được tin Piroth tự sát, để trấn an tinh thần binh lính của mình, De Castries lệnh cho lấp căn hầm, giấu biệt tin tức Piroth tự sát và gọi điện báo cáo với Cogni rằng Trung tá Piroth đã hy sinh trên trường danh dự.
2.     Ngăn thứ hai
Nơi làm việc của cơ quan yểm trợ không lực do thiếu tá Guerin chỉ huy.
Không quân là lợi thế lớn nhất của Pháp trong cuộc chiến tại Điên Biên Phủ, tất cả mọi sự chi việc của Pháp về lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược đều dựa hoàn toàn vào cầu hàng không, mỗi ngày Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được cung cấp từ 200 đến 300 tấn hàng, cứ sau 50 phút 5 tấn hàng lại được đáp xuống sân bay Mường Thanh bởi các mày bay từ Hà Nội và Hải Phòng trở lên. Trước khi ta nổ súng tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ Pháp có số lượng dự trữ là: 9 ngày lương thực, 8 ngày ét xăng, chất đốt và 25 ngày cơ số đạn.
Các tính toán của người Pháp đều chỉ ra rằng việc tiếp tế bằng đường hàng không luôn được đảm bảo trước sức mạnh của hỏa lực và pháo binh của họ và việc đánh giá thấp sức mạnh của quân đối phương. Những lập luận trên lý thuyết của người Pháp đã hoàn toàn sai lầm. Kết thúc đợt tấn công thứ nhất, để chuẩn bị cho đợt tấn công thứ hai, ta chủ trương tiến hành xây dựng trận địa tấn công và bao vây xung quanh Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Các chiến sỹ công binh của ta dưới làn bom đạn ác liệt của quân Pháp đã đào hai hệ thống giao thông hào từ Đông sang Tây. Hệ thống này gồm các đường hào trục, đường hào nhánh để vận chuyển và cơ động lực lượng với vô số những hầm trú ẩn và hầm chỉ huy. Bên cạnh đó, các chiến sỹ ta liên tiếp mở những cuộc oanh tạc dữ dội, những đợt xung kích bất ngờ vào các vị trí đã định sẵn làm tiêu hao một phần lớn sinh lực quân đồn trú Pháp, cắt đứt đường băng, làm tê liệt khả năng cất, hạ cánh của hai sân bay, ngăn chặn đường tiếp tế duy nhất của địch. Từ ngày 27/3/1954  pháo cao xạ của ta hoạt động rất mạnh và làm chủ hoàn toàn bầu trời Điện Biên Phủ, không một chiếc máy bay nào có thể hạ cánh xuống sân bay Mường Thanh, việc tiếp tế lương thực đạn dược phải trông đợi vào việc thả dù. Máy bay của Pháp phải bay ở độ cao trên 2000m để thả dù, hơn nửa số dù hàng đó đã rơi lạc sang trận địa của ta, vô tình quân ta đã được tiếp tế khá nhiều lương thực và đạn dược, trong đó có rất nhiều đồ quý mà chiến sĩ ta rất cần.
Đặc biệt, đến trung tuần tháng 4/1954 phong trào “Săn tây bắn tỉa” cũng diễn ra rất mạnh càng làm cho cuộc sống của lính Pháp trên Điện Biên Phủ lúc bấy giờ trở nên hoang mang, tuyệt vọng, thiếu thốn trầm trọng về lương thực và đạn dược. Theo số báo đặc biệt, số 146 ra ngày 30/4/1954 của tờ Báo Quân đội nhân dân xuất bản tại mặt trận có những tin bài miêu tả về cuộc sống thiếu thốn, khổ cực của những tên lính Pháp: Các kho lương thực bị cháy gần hết, còn ít thóc dự trữ cho ngựa cũng phải đem ra phát cho lính ngụy ăn. Còn những tên lính da trắng trung bình mỗi ngày cứ 8 người mới có 1,5kg bột mỳ, và 3 chiếc bánh bích quy, chúng phải thả những chiếc bích quy đó vào vỏ hộp sắt cho nước vào và đun lên để ăn thay súp. Thậm chí nước uống cũng phải chia khẩu phần, mỗi ngày một người chỉ được một hộp nước sôi, vì mỗi lần được ít nước tiếp tế là phải huy động cả đại đội và ba xe tăng đi kèm, mỗi lần đi lấy nước lại bị ta bắn tỉa thương vong vài chục tên....đói khát xảy ra trầm trọng nên việc đánh chửi, trộm cắp lẫn nhau thường xuyên diễn ra dưới những căn hầm, nhớp nháp, tối tăm. Rất nhiều binh lính Pháp không chịu được cuộc sống khổ cực đã đảo ngũ, không tham gia chiến đấu và đào những hầm ếch ẩn nấp bên bờ sông nậm Rốm. Cuộc sống của lính Pháp lúc bấy giờ ở Điện Biên Phủ được ví như “ Địa ngục trần gian”
3.     Ngăn thứ 3
Nằm bên trái lối vào là phòng làm việc của Tham mưu trưởng Tập đoàn cứ điểm. Đây là căn phòng kém may mắn nhất, bởi chỉ trong vòng 56 ngày đêm của chiến sự đã có 5 chủ nhân được thay thế, lý do của sự thay thế tất cả các Tham mưu trưởng đều bị mất tinh thần trước sức tấn công của Quân đội Nhaan dân Việt nam. Người đầu tiên phải ra đi là Guth ngay sau 3 ngày đầu tiên của chiến dịch sống trong sợ hãi. Người cuối cùng là Kenler cũng chỉ ngồi ở đây được vài ngày trước khi toàn bộ Bộ chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị bắt sống hoàn toàn.
Bên phải lối vào là phòng làm việc của De Castries. Theo hồi ức của một số cựu chiến binh ở cả 2 phía ta và Pháp, tại căn phòng này có bộ bàn ghế làm việc, giường gấp, máy điện thoại, cặp tài liệu, 1 số mệnh lệnh chỉ thị bản đồ, trên bàn còn có gạt tàn thuốc lá, bàn thấm, một thước kẻ trong suốt có vạch đỏ, bút chì và 2 bóng điện mắc từ trần hầm xuống, máy chữ để trong cùng. Chiếm gần hết 1 mặt tường là một bản kế hoạch cỡ lớn của trung tâm đề kháng Điện Biên Phủ trên đó có gạch bút chì màu những ký hiệu, quy ước.
De Castries sinh năm 1902, họ tên đầy đủ của ông ta là Cristian Marie Ferdinand de la Croix de Castries, với cái tên rất dài ấy cũng đủ để hiểu rằng De Castries sinh ra trong một gia đình bề thế quý tộc. De Castries lên Điện Biên Phủ ngày 7/12/1953 nhậm chức chỉ huy trưởng Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với quân hàm Đại tá. Rất nhiều sỹ quan Pháp, Mỹ đặt ra cho tướng Navarre một câu hỏi rằng: Tại sao chỉ huy một Tập đoàn cứ điểm qua trọng và kiên cố bậc nhất ở Đông Dương lại giao quyền chỉ huy cho một vị Đại tá? Navarre nói rằng: “ Cả tôi và Cogni đều không trông lon mà xét người, chúng tôi cũng không lấy gì sùng bái lắm mấy ngôi sao cấp tướng và tôi tin  rằng không ai có thể làm tốt hơn De Castries”. Sở dĩ De Castries nhận được sự tin tưởng tuyệt đối từ Navarre và Cogni như vậy vì De Castries sinh ra trong dòng tộc đều là những người làm binh nghiệp, đã có người đã giữ đến chức thống chế Bộ trưởng Hải quân Pháp. Là người có tài, dũng cảm, gan dạ, ưa mạo hiểm, từng là một sỹ quan kỵ binh, ngoài ra ông ta còn có cả bằng lái máy bay dân dụng. Năm 1922, De Castries xung vào đội kỵ binh làm việc ở ngành hậu cần, học sỹ quan trường Somuya. Từ những năm 1930 cho tới trước khi sang Đông Dương, De Castries tham gia vào nhiều đội quân, với các vị trí chỉ huy khác nhau, lập được nhiều công. De Castries đã 21 lần được khen thưởng, trong đó 15 lần được tuyên dương công t rạng trước toàn quân đội Pháp, hai lần vô địch thế giới về môn đua ngựa nhảy cao, nhảy xa vào các năm 1933 và 1935. Thường ngày De Castries luôn đội chiếc mũ ca lô màu đỏ và quàng chiếc khăn quàng rực rỡ, thể hiện tính cách phóng khoáng và hiếu chiến của mình. Trong một trận phục kích, De Castries bị thương nặng, gãy chân và được hồi hương để chữa bệnh. Sau chấn thương đó, ông ta đã phải mang thêm một chiếc gậy ba toong bên mình với dáng đi khập khiễng.
Tiếng tăm của De Castries đã ít nhiều được biết đến trong giới quân sự. Đó  là lý do mà cả tướng Navarre và Cogni đều tuyệt đối tin tưởng vào sự chỉ huy của De Castries sẽ đè bẹp hoàn toàn quân đội Việt Minh và làm chủ Điện Biên Phủ.
Ngày 15/4/1954 khi cuộc chiến tại Điện Biên Phủ đang ở vào giai đoạn gay go ác liệt nhất, chính phủ Pháp đã quyết định thăng cấp tướng cho De Castries và thăng quân hàm cho hàng loạt các sỹ quan tùy tùng, nhằm lên dây cót tinh thần chiến đấu cho đội quân đồn trú tại Điện Biên Phủ, Cogni đã gọi điện lên chúc mừng: “Tôi đã gửi lon thiếu tướng cùng 200 chai rượu Cognac và đồ mừng cho ngài, 52 nhà báo đang tập trung ở Hà nội để theo dõi, cả thế giới đang chờ tin thắng trận của ngài”. Nhưng thật trớ trêu cho De Castries chiếc dù hàng có lon thiếu tướng đã bị thất lạc, không chịu khuất phục trước số phận hẩm hiu của mình, De Castries đã lệnh cho binh lính gò những mảnh thiếc từ vỏ lon đồ hộp ra làm đôi quân hàm thiếu tướng đeo tạm và rượu cognac được thay thế bởi loại rượu khác khi chạm cốc.
Chiều ngày 7/5/1954 lực lượng của ta chia làm các mũi tấn công, tiến vào Trung tâm Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đại đoàn 312 đánh phía Đông vượt cầu Mường Thanh; Đại đoàn 308 đánh phía Tây mở đường qua sân bay; một mũi tấn công từ hướng Tây Nam do Đại đoàn 316 đảm nhiệm. Các mũi tấn công như những gọng kìm siết chặt vòng vây, vượt qua những làn đạn địch tiến thẳng vào Sở chỉ huy GONO, tổ xung kích của đồng chí Tạ Quốc Luật (Đại đội trưởng Đại đội 360, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312) gồm 2 chiến sỹ Hoàng Đăng Vinh, Bùi Văn Nhỏ xông vào hang ổ cuối cùng của địch. Tạ Quốc Luật hạ lệnh cho địch bằng tiếng Pháp: "Giơ tay lên hạ vũ khí xuống các ông đã bị bắt...” Toàn bộ sỹ quan Pháp giơ tay xin hàng, riêng De Castries vẫn cố xé những tài liệu cuối cùng.
Tập đoàn cứ điểm bị sụp đổ hoàn toàn, trên các cứ điểm mọc lên trắng xóa cờ đầu hàng, Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn đã điện về Mường Phăng báo cáo đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng ra lệnh mang ảnh De Castries ra đối chiếu, kiểm tra quân hàm chữ ký đề phòng địch đánh tráo chỉ huy. Sau khi đã xác định chính xác, tin bắt sống tướng De Castries đã lan đi khắp chiến trường trong tiếng reo hò vang dậy của những đại đoàn quân chiến thắng.
Khi các chiến sỹ của tổ xung kích tiến vào căn hầm này, các gian hầm sáng choang ánh điện. Hầm lương thực chất đầy bánh mì, socola, đồ hộp...Trên bàn De Castries la liệt những chai rượu uống dở, ngổn ngang cốc chén, phía cuối hầm là đống giấy đang cháy. De Castries ăn mặc chỉnh tề đầu đội mũ calô đỏ với quân phục mùa hè ngắn tay màu vàng nhạt, trên ngực đeo một cặp huân chương. Vị chỉ huy có dáng dấp giống Hoàng đế La mã giờ đây không còn giữ được vẻ ngang tàng, hống hách trước kia nữa mà đã cùng 20 sỹ quan tuỳ tùng của mình đã đàu hàng vô điều kiện theo lệnh của Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật cùng đi ra khỏi hầm giữa 2 hàng họng súng của các chiến sỹ Việt Nam.
Sau khi kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ tướng De Castries cùng với gần 10.000 lính Pháp bị bắt làm tù binh, toàn bộ số tù binh được giải về trại giam Thanh Hóa, riêng De Castries cùng 20 sỹ quan tùy tùng của ông ta được đưa về Tuyên Quang. Đến ngày 3/9/1954 hưởng chính sách khoan hồng của Quân đội nhân dân Việt Nam De Castries  được  thả tự do tại Việt Trì ( Phú Thọ), đúng như lời hứa với vợ của mình De Castries đã trở về nước, nhưng trở về với tư thế của một kẻ bại trận trước sự khoan hồng của Quân đội nhân dân Việt Nam chiến thắng. Sau chiến dịch Điện Biên Phủ De Castries còn tham gia cuộc chiến ở Angieri. Đến năm 1959 De Castries hồi hương và mất năm 1991 tại Thủ đô Paris.
4. Ngăn thứ 4
Nửa ngăn bên phải là nơi làm việc của cô nữ thư ký Pôn Buốc Gát, là một cô gái mảnh mai xinh đẹp 28 tuổi, có đôi mắt màu hạt dẻ, rất ưa mạo hiểm, được De Castries tuyển lựa trong một trận chiến ở phía Nam vùng châu thổ Sông Hồng. Cô được đưa lên Điện Biên Phủ cùng ngày De Castries nhậm chức. Trước khi xảy ra chiến sự hàng ngày nữ thư ký này cùng với De Castries trên chiếc xe jeep với nhiệm vụ ghi chép. Trong cuốn sổ tốc ký của mình, De Castries nhận xét Pôn Buốc Gát “đẹp đến lạ lùng” và đã làm bao chàng lính lê dương mất ăn, mất ngủ.
Khi chiến sự tại Điện Biên Phủ xảy ra, vì sợ nguy hiểm đến tính mạng của cô thư ký, De Castries ra lệnh cho cô ta lên chuyến bay đầu tiên chở thương binh về Hà Nội vào ngày 14/3/1954.
Thưa quý khách!
Nửa ngăn bên trái là nơi làm việc của bộ phận thông tin điện đài do Đại úy Đô- Rô- Rin và Đài trưởng Mi Liêng chỉ huy, đây là ngăn phòng có nhiều biến động nhất. Khi quân đội ta tấn công vào căn hầm này thấy còn rất nhiều máy điện đài và giấy tờ lưu trữ chưa kịp tiêu huỷ. Đến ngày 3/5/1954 cả  Navarre và Cogni đều nhận định rằng Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ không còn sức chiến đấu và bàn bàn kế hoạch rút lui sang vùng Thượng lào mang tên “Chim biển” . De Castries đã ra lệnh phá hủy vũ khí phương tiện, vũ khí chiến tranh, chỉ để lại 3 ngày lương thực cùng toàn bộ số lính bị thương, lực lượng còn lại chia làm 3 cánh quân rút chạy sang Lào. Nhưng kế hoạch rút lui đó không bao giờ thực hiện được trước sự bao vây và tấn công như vũ bão của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tại gian phòng này ngay trước khi bị bắt, De Castries đã có cuộc nói chuyện cuối cùng bằng điện thoại với chỉ huy của mình: “Việt Minh ở khắp mọi nơi, họ ở cách vị trí tôi đang đứng nói chuyện với ngài đây chừng vài mét”, “Chúng tôi sẽ không hàng, tôi đã ra lệnh phá hủy triệt để". Cogny đã nói những lời cuối cùng với cấp dưới của mình: "Tướng quân! Tất cả những gì ông đã làm được đều rất tốt, không được hàng nghe không, không được để bị bắt sống nghe không, ông phải tự sát, cả nước Pháp sẽ ghi nhớ công lao của ông...” Ở đầu dây bên này De Castries dập gót giày đứng nghiêm hứa với Cogny bằng một giọng cảm động rằng ông ta sẽ tử thủ đến cùng. Nhưng trong cuộc nói chuyện với vợ mình De Castries lại hứa rằng  bằng bất kì giá nào ông ta cũng sẽ trở về.
Đến 15 giờ ngày 7/5/1954 sau khi nhận được lệnh tổng công kích từ Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biện Phủ, các Đại đoàn chủ lực của ta tiến thẳng vào trung tâm Mường Thanh, vao vây và tiêu diệt toàn bộ Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. 17h các đồng chí thuộc tổ xung kích xông vào căn hầm chỉ huy bắt sống tướng De Castries cùng 20 sỹ quan tùy tùng đã đầu hàng vô điều kiện. Đúng 17 giờ 30 ngày 7/5/1954 lá cờ “Quyết chiến Quyết thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phấp phới tung bay trên nóc hầm tướng De Catries giữa chiều hè tháng năm lịch sử, báo hiệu giờ chiến thắng.
Sau khi bắt sống tướng De Castries và toàn bộ Bộ tham mưu của quân Pháp ở Trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, quân đội ta đã tiêu diệt một số cứ điểm còn lại và truy quét số tàn binh rút chạy sang vùng Thượng Lào. 24 giờ ngày 7/5/1954, Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt hoàn toàn, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc toàn thắng.
Lần đầu tiên trong lịch sử ta bắt sống được Bộ chỉ huy của quân đối phương và một lượng tù binh lớn đến như vậy, hơn 10 nghìn tù binh. Trong số những tù binh đó có duy nhất một nữ tù binh là nữ y tá Genevieve de Gallard, cô từng là một nữ tiếp viên hàng không xinh đẹp, được cử lên chiến trường Điên Biên Phủ làm nhiệm vụ tải thương, khi đó cô 30 tuổi từng được mệnh danh là “Nữ hoàng của mặt trận”. Khi bị bắt làm tù binh, cô đã viết thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh để xin nhận sự khoan hồng cho các thương binh nặng và cho chính mình, cô hứa nếu được hưởng chính sách khoan hồng sẽ giành hết tâm sức đấu tranh cho hòa bình ở Việt Nam. Ngày 21/5/1954 tất cả thương binh nặng và cô nữ y tá được lên máy bay rời Điện Biên Phủ về Hà Nội trong niềm vui và hạnh phúc. Trước đó cô đã gửi thư cám ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh và quân đội Việt Nam đã đối xử tốt, chăm sóc chu đáo đối với tù binh, thương binh  Pháp. Trước khi lên máy bay về Hà Nội cô đã trả lời phỏng vấn báo chí rằng: “Nếu nhận được khoan hồng của Cụ Hồ và nhân dân Việt Nam thì tôi đã xin làm tù binh sớm hơn”. Sau khi kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ cô đã tích cực ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam. Tháng 11/2003 G.Gallard ở tuổi 80, bà đã ra mắt cuốn hồi ký” Một phụ nữ ở Điện Biên Phủ” trong đó có đoạn: “ Từ lâu, tôi ao ước được quay lại Việt Nam. Gần đây tôi biết Việt Nam đã thực hiện những nỗ lực cải cách. Qua một số bộ phim, tôi lại được thấy Điện Biên Phủ tươi đẹp hơn. Thời gian trôi qua, những ký ức về Điện Biên Phủ vẫn sống mãi trong lòng tôi”. Cho dù chiến tranh đã lùi xa hơn 60 năm nhưng trận Điện Biên Phủ sẽ không bao giờ mờ phai trong ký ức những con người một thời từng ở cả hai bên chiến tuyến.
Thưa quý khách!
Tại hầm De Castries, còn diễn ra một đám cưới có một không hai sau khi kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ, 15 ngày sau khi tên tướng bại trận bị bắt. Ngày 22/5/1954 một tiệc cưới đã được tổ chức ngay chính tại căn hầm này, với những chiến lợi phẩm thu được của địch với rượu tây, thuốc lá thơm, ... được bày biện khá đẹp mắt, xung quanh bồng bềnh những chiếc dù thu được với đủ màu sắc. Không có gia đình, họ hàng thân thích, chủ hôn là đồng chí Trần Trung Nam cấp chỉ huy tại đơn vị, dưới sự chứng kiến của những người đồng đội của họ. Chú rể chính là Cao Văn Khánh, Đại đoàn phó Đại đoàn 308, còn cô dâu là Nguyễn Thị Ngọc Toản là y tá mặt trận. Trong buổi lễ thành hôn lịch sử năm ấy, Cao Văn Khánh xúc động nói với vợ  mình rằng; “Hôm nay chúng ta rất vui sướng nhận được sự ưu ái của đồng chí đồng đội trong buổi lễ thành hôn đặc biệt trên chiến trường đã im tiếng súng. Và chúng ta không quên nhớ ơn tới những người đồng đội đã ngã xuống trên chiến trường  này, chúng ta sẽ cố gắng hết mình để xứng đáng với truyền thống anh hùng của quân đội ta, xứng với niềm tin của nhân dân, của Đảng và Bác Hồ.” Còn đối với cô dâu, nữ y tá Nguyễn Thị Ngọc Toản, trong ngày hạnh phúc trọng đại nhất cuộc đời mình nhưng sao hai dòng nước mắt của cô cứ lăn dài. Bởi chính trong khoảnh khắc ấy cô lại nghĩ đến và tiếc thương cho những chiến sỹ đã anh dũng hy sinh, trong đầu cô cứ nhớ mãi những gương mặt trẻ trung của các chiến sỹ bị thương nặng rồi trút hơi thở cuối cùng trên cách tay chăm sóc của mình. Họ còn quá trẻ, mới chỉ mười chín, đôi mươi, theo tiếng gọi của tổ quốc, khoác cây súng trên vai, cứ thế ra trận đấu tranh vì độc lập tự do cho dân tộc, còn chưa biết thế nào là tình yêu đôi lứa chứ chưa nghĩ đến việc có một tình yêu trọn vẹn. Vậy mà, các anh nằm xuống nơi đây và  không bao giờ trở lại. Tất cả những điều đó làm cho cô suy nghĩ sẽ phấn đấu trở thành một bác sỹ giỏi để cứu chữa cho đồng đội, cho nhân dân. Sau này cô đã trở thành Đại tá, bác sỹ sản phụ khoa đầu ngành của nước ta, còn Đại đoàn phó Cao văn Khánh sau này trở thành Trung tướng, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đồng chí Cao văn Khánh đã mất năm 1980, hiện nay bà Nguyễn Thị Ngọc Toản đang sinh sống tại Hà Nội.
Thưa quý khách!
Hơn 60 năm đã trôi qua, thời gian có làm mờ dấu chân của người lính trên chiến trường năm xưa, nhưng những dấu tích của một thời oai hùng mãi trường tồn cùng non sông, đất nước, mãi là niềm tự hào, là nguồn cổ vũ lớn lao đối với dân tộc Việt Nam trên bước đường chấn hưng đất nước hôm nay.
Hiện nay tại di tích hầm De Castries đã được xây dựng công trình mái che hiện vật ngoài trời, là kết quả của việc đẩy mạnh công tác “xã hội hóa” trùng tu, tôn tạo di tích, đã góp phần bảo vệ di tích này một cách tối ưu nhất. Với ý nghĩa to lớn của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, vai trò quan trọng của hầm De Castries với Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ năm xưa và sự gắn kết chặt chẽ, không thể tách rời của di tích hầm De Castries hôm nay trong khu di tích chiến trường Điện Biên Phủ thì nơi đây sẽ mãi là chứng tích hào hùng nhất của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược. Bài học về tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước là đây và sẽ mãi được kế thừa và phát huy cho đến muôn đời sau./.




        DI TÍCH ĐỒI HIM LAM (BÉATRICE)
Tại sân nhà đón tiếp
Kính thưa quý khách!
Cách đây hơn 60 năm dân tộc Việt Nam bằng trí tuệ, ý chí kiên cường, sức mạnh đoàn kết đã làm lên Chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đi vào lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc như một mốc son chói lọi bằng vàng, mà ý nghĩa và tầm vóc của sự kiện lịch sử này vẫn còn vang mãi cho đến hôm nay. Điện Biên Phủ  năm xưa, nay đã khoác lên mình màu xanh áo mới, màu xanh của sự sống, của sự bình yên. Hôm nay trong chuyến tham quan đoàn chúng ta sẽ cùng nhau khám phá và tìm hiểu những địa danh lịch sử gắn liền với những chiến công hào hùng của ông cha ta. Để rồi được sống lại những giây phút hào hùng của các chiến sĩ Điện Biên, những con người đã góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954.
Nơi chúng ta đang dừng chân là di tích Him Lam, nằm cách trung tâm thành phố Điện Biên Phủ 2,5km về phía Đông Bắc, với tổng diện tích là 136.900m2. Di tích Him Lam là nơi ghi dấu chiến công đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954. Him Lam là một trong những trung tâm đề kháng kiên cố nhất của địch, nằm ở vòng ngoại vi, án ngữ con đường 41 từ Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ.  Trung tâm đề kháng Him Lam cùng với 2 trung tâm đề kháng thuộc phân khu Bắc là Độc Lập và Bản Kéo tạo thành một khu vực ngoại vi, nhằm bảo vệ Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ngay từ vòng ngoài. Nếu thực dân Pháp xây dựng Điện Biên Phủ trở thành một “pháo đài bất khả xâm phạm” thì trung tâm đề kháng Him Lam là “cánh cửa thép”, là nơi chúng giăng chiếc bẫy để nhử quân ta đánh vào. Nơi đây được quân Pháp nhận định sẽ là nơi đương đầu với những mũi tấn công chính của Quân đội nhân dân Việt Nam nên chúng đã xây dựng Trung tâm đề kháng này hết sức kiên cố và vững chắc. Him Lam được đánh giá là một vị trí vô cùng hiểm yếu, nếu quân ta muốn tiếp cận Tập đoàn cứ điểm cứ điểm Điện Biên Phủ từ phía Đông Bắc thì bắt buộc phải vượt qua được cánh cửa này.
Sau đây xin mời đoàn chúng ta lên tham quan thực tế di tích Him Lam!
Tại ngã ba: Do Him Lam có vị trí quan trọng, lại có địa hình thuận lợi nên Pháp đã bố trí xây dựng thành 3 cứ điểm nằm trên 3 mỏm đồi, hình thành thế chân vạc vững chắc, tạo thành điểm tựa vòng tròn, có khả năng chống đỡ cả 4 hướng khi bị quân ta tiến công vào. Ngoài hệ thống công sự kiên cố với những tuyến giao thông hào ngang dọc nối liền các cơ quan chỉ huy, các hầm, ụ súng, hỏa điểm bí mật...quân Pháp còn bố trí hàng loạt những hệ thống vật cản, công sự phụ dày đặc từ chân đồi lên đến đỉnh đồi. Tại đây quân Pháp bố trí Tiểu đoàn 3 thuộc bán lữ đoàn Lê Dương số 13 chốt giữ.
Về phía ta: Sau khi nghiên cứu kĩ tình hình chiến sự giữa ta và địch, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định chọn Him Lam làm trận đánh mở màn cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Để đảm bảo nguyên tắc "trận đầu phải thắng”, quân ta đã bố trí lực lượng mạnh gấp 3 lần so với quân Pháp nếu tính cả lực lượng dự phòng là gấp 5 lần. Có kế hoạch phòng pháo, phòng không, phòng địch phản kích; dự kiến các tình huống cơ bản và cách xử lý khi trận đấu diễn ra. Lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ tấn công tiêu diệt trung tâm đề kháng Him Lam là Đại đoàn 312 sử dụng 2 Trung đoàn Bộ binh 141 và 209 cùng toàn bộ hoả lực trong biên chế của Tiểu đoàn. Ngoài ra còn được tăng cường 8 khẩu lựu pháo 105mm, 6 khẩu sơn pháo 75mm và DKZ 57mm, 7 khẩu cối 120mm, 32 khẩu cối 82mm vào trận đánh này.
Hướng tấn công chủ yếu là hướng Bắc và Tây Bắc được giao cho Trung đoàn 141, do Trung đoàn trưởng Quang Tuyến chỉ huy các đơn vị tiêu diệt cứ điểm 1 (Tiểu đoàn 11 ), tiêu diệt cứ điểm 2 (Tiểu đoàn 428), lực lượng dự bị giao cho Tiểu đoàn 16 đảm nhiệm. Để triển khai kế hoạch tấn công vào 2 cứ điểm 1 và 2, Trung đoàn 141 được lệnh tiêu diệt 2 cứ điểm vòng ngoài của địch là 101A và 102.
Hướng thứ yếu là hướng Đông được giao cho Trung đoàn 209, do Trung đoàn trưởng Hoàng Cầm chỉ huy sử dụng 2 Tiểu đoàn 130 và 154 (thiếu một  đại đội) tiêu diệt cứ điểm 3 và cắt đứt con đường rút lui, tăng viện của địch, lực lượng dự bị giao cho Tiểu đoàn 166. Để triển khai kế hoạch tấn công vào cứ điểm 3, Trung đoàn 209 được lệnh tấn công từ hướng Đông Bắc  tiêu diệt cứ điểm vòng ngoài của địch là 101B.
 Giới thiệu cứ điểm 3: Nằm ở phía Đông là cứ điểm 3 do Đại đội 11 chốt giữ. 
 Về phía ta, đơn vị đảm nhiệm tiêu diệt cứ điểm này là Đại đội 366, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312. Thực hiện phương án " đánh chắc, tiến chắc", đúng 17giờ ngày 13/3/1954, pháo binh ta đồng loạt nhả đạn liên tiếp nhằm thẳng Him Lam và phân khu trung tâm. Tại đây cuộc tiến công của Tiểu đoàn 130 do Tiểu đội trưởng Nguyễn Cẩm chỉ huy nhanh chóng áp sát cứ điểm. Các chiến sĩ sơn pháo 75mm đặt pháo ngay trước cứ điểm, bắn trực tiếp vào các lô cốt, ụ súng, yểm trợ cho bộ binh xông lên đặt các khối thuốc nổ để mở cửa đột phá. Sau 40 phút các chiến sĩ đã dọn sạch được một con đường xuyên qua lớp hàng rào dây kẽm gai và bãi mìn. Tiểu đội xung kích do Trần Can dẫn đầu, giương cao lá cờ “quyết chiến, quyết thắng” vượt qua cửa mở xông lên, tiến thẳng về phía Sở chỉ huy của địch trên đỉnh đồi. Đến đây Tiểu đội của anh vấp phải sự chống trả quyết liệt từ lô cốt của địch, anh đã lệnh cho một tổ trung liên bắn nghi binh về phía trước để thu hút quân địch, còn anh dẫn một tổ vòng ra phía sau lô cốt ném thủ pháo diệt hỏa điểm. Hành động mưu trí của anh đã quyết định số phận của ổ súng máy trong lô cốt. Anh nhanh chóng cắm lá cờ “Quyết chiến, Quyết thắng” lên nóc hầm chỉ huy của địch. Đây là lá cờ “Quyết chiến, Quyết thắng” đầu tiên của ta cắm trên cứ điểm phòng ngự của địch. Đến 20h30 phút, Tiểu đoàn 130 đã tiêu diệt gọn Đại đội Lê dương số 11 của địch làm chủ hoàn toàn cứ điểm số 3.
Cuộc chiến diễn ra không kém phần gay go, quyết liệt để tiếp tục theo dõi diễn biến trận đánh xin mời đoàn lên thăm cứ điểm 2.
Tại vị trí ghế đá trên cứ điểm 2: Trung tâm đề kháng Him Lam có vị trí quan trọng, lại có địa hình thuận lợi nên Pháp đã bố trí xây dựng trận địa phòng ngự kiên cố nó được ví như cánh cửa thép bảo vệ cho Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ từ phía Đông Bắc. Đứng từ đây ta có thể bao quát toàn bộ trung tâm đề kháng này bao gồm 3 cứ điểm: Cứ điểm 1 nằm ở hướng Tây Bắc, đây là điểm tựa chủ yếu cho Tiểu đoàn; Cứ điểm 3 nằm ở phía Đông.
Về binh lực, quân Pháp bố trí một Tiểu đoàn với tổng số 750 quân lính gồm 4 đại đội( Đại đội 9,10,11,12). Đây là đơn vị thiện chiến bậc nhất, trong lịch sử chưa từng thua trận nào, ngay cả trong đại chiến thế giới thứ 2 do Tiểu đoàn trưởng Paul Pégaux chỉ huy.
Về hỏa lực, quân Pháp bố trí hỏa lực tại các cứ điểm khá mạnh, ngoài các loại súng trung liên, đại liên còn có súng trọng liên, súng không giật, súng phun lửa, súng cối và súng có kính ngắm bằng tia hồng ngoại có thể quan sát mục tiêu vào ban đêm. Những loại hỏa lực này được chúng bố trí thành nhiều tầng nhằm gây sát thương cho quân ta. Ngoài ra trong trường hợp Him Lam bị tiến công thì hỏa lực, lực lượng cơ động ở trung tâm Mường Thanh, Hồng Cúm và các cứ điểm xung quanh sẵn sàng tập trung chi viện. Trong trường hợp đặc biệt còn có lực lượng không quân từ Hà Nội lên ứng cứu.
Với quân số đông, hỏa lực mạnh, công sự vững chắc được bố phòng chặt chẽ. Trung tâm đề kháng Him Lam do chính tay viên cố vấn Mỹ ở chiến trường  Nam Triều Tiên về thiết kế và trực tiếp đôn đốc xây dựng, tổ chức phòng ngự. Ngay khi Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ cơ bản được hoàn thành; có nhiều quan chức cấp cao của Pháp, Mỹ lên thăm, họ đã tỏ ra rất hài lòng. Đặc biệt là sau khi lên thị sát pháo đài Him Lam, những vị khách này đã giành không ít lời khen ngợi đối với công trình phòng ngự được cho là hoàn hảo này.
 Sau khi mọi công tác chuẩn bị cho trận đánh mở màn đã được tiến hành tỉ mỉ, chu đáo từ khâu trực tiếp đi trinh sát cứ điểm nhiều lần để xác định hướng đột phá mở cửa, nơi bố trí quân, nơi đặt hỏa lực, chỗ đào giao thông hào để tiếp cận địch... Qua kết quả kiểm tra trận địa đồng chí Hà Văn Nọa - Đại đội trưởng Đại đội 243, Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 141- Đơn vị anh được giao nhiệm vụ chủ yếu tiêu diệt cứ điểm 1 đã kịp thời phát hiện và báo cáo lên cấp trên: Ở giữa cứ điểm 1 và cứ điểm 2 có một con đường mòn mà hàng ngày lính Pháp trong cứ điểm vẫn ra suối lấy nước. Muốn đánh cứ điểm này thì sau khi vượt qua sông Nậm Rốm bằng cầu ngầm làm bằng tre, Tiểu đoàn 11 phải đi qua con đường này. Nếu không đi qua con đường đó mà tiến thẳng thì Tiểu đoàn 11 sẽ đánh vào cứ điểm 2 - nơi Tiểu đoàn 428 đảm nhiệm, như vậy chúng ta sẽ gặp khó khăn trong chiến đấu, mà quân Pháp sẽ lợi dụng ta sơ hở mà bắn sang thì sẽ thương vong nhiều. Nhờ có phát hiện kịp thời và chính xác của Đại đội trưởng Hà Văn Nọa đã giúp cho quá trình chuẩn bị trận đánh mở màn được thuận lợi và chắc thắng vì vậy thời gian dự định nổ súng là ngày 11/3/1954 phải lui lại 48 tiếng để đơn vị trinh sát, kiểm tra lại.
Từ ngày 11/3 đến 13/3, các chiến sĩ Đại đoàn 312 tiến hành đào trận địa xuất phát xung phong, khi các chiến hào của ta dần xuất hiện trên cánh đồng ngày một tiến thẳng vào cứ điểm địch cũng là lúc quân Pháp biết trận đánh nhằm vào Him Lam sắp bắt đầu. Quân Pháp cho máy bay, đại bác bắn phá vào các vị trí chúng nghi ngờ ta đóng quân và lập tức đưa bộ binh, xe tăng ra san lấp trận địa chiến hào của ta. Lúc này các đơn vị yêu cầu cho lựu pháo lên tiếng, chặn bước quân địch, bảo vệ trận địa. Dự định ban đầu là pháo binh ta sẽ lên tiếng vào trận mở màn nhằm giữ yếu tố bất ngờ. Nhưng để bảo vệ trận địa trước khi trận đánh bắt đầu, pháo binh được lệnh bắn vào Him Lam, chặn xe tăng và bộ binh địch; đồng thời kiểm tra độ chính xác của pháo. Chỉ sau 20 loạt đạn ngay tức khắc xe tăng, bộ binh địch đã phải quay đầu rút lui. Trong khi lựu pháo bắn vào Him Lam thì sơn pháo 75mm tập kích bắn vào sân bay, Sở chỉ huy của De Castries và trận địa pháo của địch. Sau trận pháo kích của ta đã khiến cho một kho xăng bốc cháy, hai máy bay trên đường băng bị phá hủy. Đến chiều, do sương xuống mỗi lúc một dày có khả năng che kín mục tiêu, pháo binh khó hiệu chỉnh đạn; đơn vị tiến công, đề nghị chỉ huy mặt trận cho nổ súng sớm.
 Vị trí lô cốt - nơi anh Phan Đình Giót hy sinh: Anh Phan Đình Giót sinh năm 1920, quê ở xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Anh xuất thân trong một gia đình nghèo có truyền thống yêu nước. Năm 1950, anh xung phong nhập ngũ, tham gia nhiều chiến dịch lớn như chiến dịch Trung Du, chiến dịch Hòa Bình, chiến dịch Tây Bắc và chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trận đánh nào đồng chí cũng nêu cao tinh thần quả cảm, vượt qua khó khăn hoàn thành nhiệm vụ 1954 xuất sắc nhiệm vụ.
 Sau khi mọi công tác chuẩn bị của ta cho trận đánh mở màn đã hoàn tất. Đúng 17h giờ ngày 13/3/1954 trận pháo kích của ta bất thần tấn công dữ dội vào cứ điểm Him Lam mở màn cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Him Lam chìm trong khói lửa, bị tấn công bất ngờ nên quân Pháp hoang mang, hoảng sợ.
Thấy quân ta tấn công mạnh, Thực dân Pháp ra sức phản kích, dùng hỏa điểm để tiêu diệt và ngăn cản bước tiến của quân ta. Các chiến sĩ của Đại đội 58 được lệnh dùng bộc phá phá hàng rào để mở cửa. Các đồng chí thay nhau yểm trợ để tiến lên đánh bộc phá. Quả bộc phá thứ nhất thành công, sau đó là quả thứ 2, 3. Anh Phan Đình Giót đánh quả bộc phá thứ 9 thì bị thương vào đùi nhưng vẫn xung phong đánh quả bộc phá thứ 10, cuối cùng anh cũng phá được hàng rào và anh đã bị thương rồi ngất đi. Cửa lúc này được mở thông, bộ binh ta ào ạt xung phong. Khi vừa qua cửa mở, Đại đội 58 do đại đội trưởng Nguyễn Đức Song chỉ huy bị ùn tắc vì một khẩu đại liên của địch trong lô cốt bắn ra xối xả. Các chiến sĩ thay nhau xông lên tìm cách tiêu diệt hỏa điểm nhưng đều hy sinh. Anh Phan Đình Giót  nhận thấy sự lợi hại của hỏa điểm địch và nếu hỏa điểm này chưa được dập tắt thì máu của đồng đội còn phải đổ. Mặc dù bị thương nhưng anh vẫn cố hết sức mình nhích từng chút một, tiến về phía lô cốt của địch. Anh đã gượng dậy nâng khẩu tiểu liên nhả đạn liên tiếp vào lỗ châu mai của địch, miệng hô to: “Quyết hy sinh... vì... Đảng, vì... dân!”, rồi rướn người lấy đà lao thân mình vào bịt kín lỗ châu mai, dập tắt hỏa lực lợi hại của địch, tạo điều kiện cho đơn vị xông lên như vũ bão lần lượt tiêu diệt các vị trí phòng ngự của địch. Có ai ngờ, đó lại là lần cuối anh cùng đồng đội chiến đấu, vào một ngày mùa xuân năm 1954 anh đã hy sinh để lại bao đau thương, tiếc nuối cho đồng đội. Cảm động trước hành động quên mình vì Đảng, vì dân, đồng đội của anh nén đau thương, tiếp tục chiến đấu nhanh chóng tiêu diệt và làm chủ cứ điểm 2 vào hồi 22 giờ 30 phút, bắt sống và tiêu diệt toàn bộ Đại đội Lê Dương số 9. Tấm gương hy sinh của Tiểu đội trưởng Phan Đình Giót đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu cho đồng đội tiến lên  quyết tâm tiêu diệt gọn trung tâm đề kháng Him Lam. Trận đánh toàn thắng nhưng anh đã mãi ra đi. Máu anh đỏ nhuộm vào đất, hồn anh hóa thân vào lá cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới trên cứ điểm Him Lam hào hùng.Năm 1955 anh Phan Đình Giót được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”, đây là phần thưởng cao quí mà Đảng và Nhà nước muốn tri ân tới người anh hùng. Anh  Phan Đình Giót đã hy sinh nhưng anh vẫn còn sống mãi trong lòng mỗi người dân Điện Biên nói riêng và mỗi người con đất Việt nói chung. Anh đã trở thành tấm gương sáng về lòng dũng cảm chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc để thế hệ trẻ hôm nay học tập, noi theo.
Giới thiệu tuyến giao thông hào: Trước mắt chúng ta là hệ thống giao thông hào được liên kết với nhau, nối liền các lô cốt, ụ súng với hầm chỉ huy để dễ dàng thuận tiện trong quá trình chiến đấu. Sau đây xin mời đoàn cùng di chuyển tham quan thực tế giao thông hào của quân Pháp để xem trước đây chúng đã xây dựng và bố trí như thế nào.( trải nghiệm đường hào)
 Thưa quý khách! chúng ta có thể tận mắt chứng kiến hệ thống giao thông hào của quân Pháp được xây dựng rất kiên cố. Nếu như Quân đội Việt Nam đào được hàng trăm km đường giao thông hào bao vây Tập đoàn cứ điểm của địch chỉ bằng những vật dụng thô sơ như: cuốc, xẻng... Thì ngược lại quân Pháp có các loại phương tiện, máy móc hiện đại như máy xúc, máy ủi... Những đường hào được đào sâu là 1,7m, rộng 0,8m. Trên tuyến hào này chúng bố trí  rất nhiều ụ súng, hố bắn và hỏa điểm bí mật hòng ngăn chặn bước tiến của quân ta.
          Giới thiệu vị trí hầm chỉ huy cứ điểm: Chúng ta đang có mặt tại vị trí đỉnh đồi nơi quân Pháp bố trí cơ quan chỉ huy của cứ điểm bao gồm: hầm làm việc, hầm ngủ của chỉ huy Đại đội 9, hầm thông tin, hầm giao ban...
Sau khi cứ điểm 2 và 3 bị ta khống chế và tiêu diệt hoàn toàn. Lúc này quân địch tại cứ điểm 1 đã ra sức chống trả dồn mọi nỗ lực phòng ngự để đối phó và kéo dài trận chiến với hy vọng sẽ có lực lượng và pháo binh từ căn cứ Mường Thanh, Hồng Cúm chi viện, ứng cứu. Về phía ta sau khi chiếm được cứ điểm 2 và 3 các đơn vị của ta được lệnh tập trung tiêu diệt cứ điểm 1. Đây là cứ điểm cuộc chiến diễn ra kéo dài và ác liệt nhất, phải mất hơn 5 giờ chiến đấu ta mới tiêu diệt và làm chủ được cứ điểm này.
 Giới thiệu cứ điểm 1: Trong khi mũi tiến công vào cứ điểm 2 và 3 phát triển thuận lợi thì mũi tiến công chủ yếu của Đại đội 243 Tiểu đoàn 11 vào cứ điểm 1 gặp khó khăn ngay khi đột phá mở cửa hàng rào. Hỏa lực pháo binh của địch lúc đầu bị tê liệt vì pháo ta uy hiếp, dần dần hoạt động trở lại khá mạnh, đã ngăn chặn ác liệt đường tiến quân của tiểu đoàn, đồng thời những ụ súng ngầm và những hỏa điểm di động mai phục trong cứ điểm đã bất ngờ xuất hiện rất lợi hại, sát thương và ngăn cản bước tiến của quân ta. Nhiều chiến sĩ ôm bộc phá hy sinh trước cửa mở. Cuộc chiến đấu mở cửa đột phá diễn ra rất gay go, quyết liệt, số lượng chiến sĩ thương vong khá nhiều, sau 4 giờ  chiến đấu, đơn vị vẫn chưa vượt qua lớp hàng rào cửa mở.
Giới thiệu lớp hàng rào dây thép gai: Trước mắt chúng ta là những lớp rào dây thép gai với đủ các loại hình thù: từ mái nhà đơn, mái nhà kép, hình lò xo, cũi lợn ... có độ dày từ 50m đến 200m, xen kẽ vào đó là những bãi mìn dày đặc đủ loại như mìn nhảy, mìn cóc, mìn napan...vv. Nó được ví như lưới lửa tự động sẵn sàng thiếu cháy đối phương ngay từ vòng ngoài cùng. Tiếp sau lớp rào là tuyến hào tiền duyên, tại đó quân Pháp bố trí những khẩu súng trung liên để kiểm soát mặt đất. Bên cạnh đó chúng còn bố trí những hỏa điểm bí mật nhằm gây sát thương  quân ta khi tấn công vào trận địa của chúng.
Giới thiệu tuyến giao thông hào: Pháp đã cho xây dựng ở lưng chừng đồi các hệ thống giao thông hào chìm nổi phức tạp, hào sâu 1,7m, rộng 0,8m được nối thông với các cơ quan chỉ huy trên đỉnh đồi bao gồm: Giao thông hào cố thủ không có nắp, ụ súng bắn cá nhân, ngách hầm hàm ếch chánh đạn bắn thẳng và bố trí các loại hỏa lực mạnh như: đại liên, trọng liên để kiểm soát từ xa.
Giới thiệu hệ thống cơ quan chỉ huy: Nằm trên đỉnh đồi tại đây quân Pháp bố trí Sở chỉ huy Tiểu đoàn và các cơ quan chỉ huy bao gồm hầm làm việc, hầm ngủ của chỉ huy Tiểu đoàn, hầm thông tin, hầm giao ban, hầm chiến đấu không có nắp. Cứ điểm 1 là nơi quân Pháp chọn đặt Sở chỉ huy tiểu đoàn do vậy được xây dựng rất kiên cố và được bảo vệ một cách nghiêm ngặt từ ngoài vào trong. Trước khi chiến sự diễn ra, quân Pháp tin tưởng tuyệt đối vào khả năng phòng thủ của Him Lam nhưng chỉ  sau loạt đạn pháo đầu tiên của quân ta nã vào cứ điểm, quân địch đã phải nếm những đ̣òn khủng khiếp. Một viên đạn pháo rơi trúng Sở chỉ huy tiểu đoàn, tiêu diệt viên Tiểu đoàn trưởng Paul Pégaux cùng với 3 sĩ quan khác và toàn bộ hệ thống điện đài bị phá hủy. Mọi thông tin liên lạc giữa Him Lam với Mường Thanh bị cắt đứt hoàn toàn. Khi xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, quân Pháp hoàn toàn yên tâm vào khả năng pḥòng ngự và đứng vững của Tập đoàn cứ điểm này.  Đặc biệt là Trung tá Piroth - chỉ huy pháo binh của Điện Biên Phủ đã rất tự tin khi nắm trong tay một  lực lượng pháo binh hùng hậu. Trong lần lên thăm Điện Biên Phủ, ngài bộ trưởng các quốc gia liên kết MarcJacket đã gợi ý với Trung tá Piroth có cần tăng cường thêm pháo không? Piroth huyênh hoang trả lời rằng: " Các ngài hãy thử xem pháo binh ở Điên Biên Phủ thế này là quá mạnh rồi, pháo binh Việt Minh không thể đấu nổi. Nếu pháo binh Việt Minh vào đây, tôi xin lấy danh dự thề rằng chỉ cần 5 phút, tôi sẽ khóa họng pháo Việt Minh lại". Nhưng yếu tố bất ngờ là điều chúng không thể dự đoán trước được. Những khẩu pháo hạng nặng của ta lần đầu xuất hiện ở Điện Biên Phủ đồng loạt lên tiếng đã khiến cho quân Pháp phải bàng hoàng, khiếp sợ. Trong đêm tối, Piroth đã rơi vào tình thế hoảng loạn tột độ, Y đã lệnh cho pháo binh bắn liên tiếp 6000 viên đại bác xuống khu vực trận địa hòng cứu nguy cho Him Lam, nhưng mọi nỗ lực đều trở nên vô vọng.
Ngày 13/3/1954, sau đợt tập kích của ta vào phân khu trung tâm 7 chiếc máy bay chiến đấu đang nằm trên sân bay Mường Thanh vội vàng nổ máy cất cánh khỏi đường băng. Khi 1 chiếc vừa rời mặt đất thì gặp phải một luồng lửa của pháo cao xạ 37 ly của ta bắn trúng, 6 chiếc còn lại không dám cất cánh, lần lượt bị trúng đạn đại bác. Tiếp đó 1 kho xăng bốc cháy, các trận địa pháo ở Mường Thanh lúc này bị tê liệt hoàn toàn, 12 khẩu trọng pháo và súng cối bị hỏng nặng. Hầu hết đường dây điện thoại từ khu trung tâm tới các cứ điểm đều bị cắt đứt. Rất nhiều hầm, hào, công sự của địch bị đánh sập. Trong khi pháo ta vẫn đang bắn cấp tập vào các vị trí mục tiêu, quân địch chưa kịp phản ứng thì các đơn vị xung kích đánh vào các cứ điểm.
Về phía ta, cuộc chiến tại vị trí cửa mở diễn ra quyết liệt suốt 4 giờ. Các đơn vị sau khi đã làm chủ cứ điểm 2 và 3, được lệnh tăng cường sang cứ điểm 1. Trong quá trình  chiến đấu các chiến sĩ đã phát hiện hai hỏa điểm ngầm bên trong cứ điểm, tổ đại liên đã nhanh chóng tiếp cận, đồng loạt nhả đạn, tạo điều kiện cho bộc phá mở hàng rào cuối cùng. Lúc này khí thế tấn công của quân ta đồng loạt xung phong, lần lượt đánh chiếm các lô cốt, hầm hào, vị trí hỏa điểm địch. Tiểu đội trưởng Nguyễn Hữu Oanh dẫn đầu tiểu đội mũi nhọn lao lên cầm lá cờ “Quyết chiến, Quyết thắng” phất cao vẫy toàn đơn vị đánh thẳng vào tung thâm cứ điểm. Trước sức mạnh tấn công như vũ bão của ta, số quân lính sống sót tại Him Lam đã bỏ đồn, chạy về trung tâm Mường Thanh.
23 giờ 30 đêm ngày 13/3/1954, đồng chí Lê Trọng Tấn - Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312 báo cáo Bộ chỉ huy chiến dịch: Đại đoàn 312 đã hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt trung tâm đề kháng Him Lam, diệt 300 tên, bắt sống 200 tên, thu toàn bộ vũ khí, đạn dược của địch. Như vậy sau hơn 5 giờ chiến đấu, ta đã hoàn toàn làm chủ được trung tâm đề kháng Him Lam, giáng một đòn mạnh mẽ vào Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tạo thời cơ thuận lợi tiến công tiêu diệt các cứ điểm vòng ngoài của địch là Độc Lập và Bản Kéo kết thúc đợt tấn công thứ nhất. Việc chúng ta nhanh chóng tiêu diệt cứ điểm Him Lam, đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần cho các chiến sĩ trên toàn mặt trận, tiếp thêm sức mạnh chiến đấu, quyết tâm tiêu diệt Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bắt sống viên tướng chỉ huy De Castries, kết thúc chiến dịch, giải phóng Điện Biên ngày 7/5/1954.
Thực hiện chính sách khoan hồng, đồng chí Lê Trọng Tấn - Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312 đã xin ý kiến chỉ đạo của Bộ chỉ huy chiến dịch soạn thảo 1 lá thư với nội dung cho phép đối phương đem xe cứu thương đến nhận thương binh và thu lượm xác chết tại Him Lam từ 8 giờ đến 12 giờ ngày 14/3/1954, giao cho một tên lính Pháp bị thương gửi tới cho De Castries: “Gửi De Castries - Chỉ huy Quân đội viễn chinh Pháp tạm thời chiếm đóng Điện Biên Phủ. Được lệnh của cấp trên, tôi báo cho các ngài biết: "Đúng 8giờ sáng mai, các ngài được phép đưa một trung đội không vũ khí, có ôtô hồng thập tự, người đi đều phải mang cờ trắng đến Him Lam nhận những người bị thương về”.
                                                                 24 giờ ngày 13/3/1954
                                                                             Ký tên
                                                                        Lê Trọng Tấn
9 giờ sáng ngày 14/3/1954, một chiếc xe Jeep cắm cờ trắng có dấu chữ thập đỏ cùng với một xe vận tải và một xe cứu thương từ Mường Thanh chạy đến cứ điểm Him Lam. Pháo đài thép Him Lam chỉ còn là một đống đổ nát, những lô cốt, ụ súng, hầm hào đều bị xới tung. Số lính của Tiểu đoàn 3 Bán lữ đoàn Lê dương 13 chỉ còn là hàng trăm xác chết ngổn ngang nằm lẫn lộn trong đất đá, la liệt khắp nơi. Họ thu lượm được rất ít thương binh.
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã mở màn bằng chiến thắng Him Lam giòn giã có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó không chỉ tiêu diệt được một trung tâm đề kháng mạnh nhất của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mà còn giáng một đòn nặng nề vào đầu não của địch.
Điện Biên xưa kiên cường trong khói lửa, Điện Biên nay vững bước đi lên trên con đường hội nhập và phát triển kinh tế chung của đất nước. Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, những người con trên mảnh đất Điện Biên luôn ghi nhớ và thể hiện lòng biết ơn sâu sắc với những người anh hùng đã ngã xuống cho mảnh đất mãi xanh tươi. Ký ức về một thời lửa đạn đã thắp lên ngọn lửa truyền thống trên quê hương cách mạng Điện Biên.
Những năm vừa qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và UBND tỉnh Điện Biên di tích Him Lam cùng với quần thể di tích Điện Biên Phủ đã được đầu tư kinh phí để trùng tu, tôn tạo nhằm lưu giữ và tuyên truyền giáo dục cho các thế hệ mai sau hiểu được tinh thần yêu nước, ý chí quật cường, nghệ thuật quân sự tài tình, tính chất ác liệt của cuộc chiến tranh giữ nước và sự hy sinh gian khổ, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của ông cha ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Từ đó khơi dậy lòng yêu nước của thế hệ trẻ, quyết tâm giữ gìn những thành quả cách mạng mà cha ông ta xây dựng nên, thôi thúc họ đem hết tài năng trí tuệ xây dựng Tổ quốc Việt Nam ngày càng giàu đẹp.
Kết thúc cuộc hành trình hôm nay, tôi hy vọng đã ít nhiều gợi lại cho đoàn chúng ta những kí ức lịch sử trong trận chiến đấu oanh liệt, hào hùng của cha anh. Cái tên Điện Biên Phủ, Him Lam, Mường Thanh, Hồng Cúm... đã trở thành nguồn cảm hứng cho rất nhiều nhà văn, nhà thơ và các nhạc sĩ sáng tác những tác phẩm, những giai điệu ca ngợi chiến thắng Điện Biên Phủ - một chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỉ 20.
 
           
 
 
 
DI TÍCH SỞ CHỈ HUY CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
TẠI MƯỜNG PHĂNG
 
Mường Phăng là một trong những địa danh quen thuộc, cũng giống như phần lớn các địa danh khác của Châu Điện Biên từ xưa tới nay. Từ năm 1954, Mường Phăng lại càng trở nên gần gũi hơn khi là nơi che chở, bảo vệ cơ quan đầu não của chiến dịch
Về với Mường Phăng là về với cội nguồn của lịch sử, cội nguồn của chiến thắng. Bộ chỉ huy chiến dịch đã chọn Mường Phăng để đặt Sở chỉ huy, những mái lán đơn sơ của Sở chỉ huy nằm ẩn mình dưới những tán rừng già trong một khu rừng nguyên sinh, dưới chân đỉnh núi Pú Đồn thuộc địa phận xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên nằm cách trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ khoảng 17km đường chim bay và 40km theo đường bộ. Đây là địa điểm thứ 3, cũng là điểm dừng chân cuối cùng trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch. Tại đây Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ đã dừng chân 105 ngày đêm từ ngày 31/1/1954 đến ngày 15/5/1954.
Kính thưa quý khách!
18h chiều ngày 4/10/2013, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, vị tướng tài kiệt xuất của dân tộc đã trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Quân Y 108, hưởng thọ 103 tuổi.  Sự ra đi của Đại tướng đã để lại niềm tiếc thương vô hạn cho hàng triệu triệu đồng bào, khi tất cả cùng nhau trải qua nhiều cung bậc cảm xúc,   nghẹn ngào, xót xa, đau thương, tiếc nuối.
      Được sự nhất trí của UBND tỉnh Điện Biên, BTCTLSĐBP đã lập ban thờ Đại tướng ngay tại khu di tích Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ tại Mường Phăng để du khách có thể dâng nén tâm hương tưởng nhớ đến Đại Tướng khi đến tham quan khu di tích này.
Xin mời đoàn chúng ta lên làm lễ dâng hương cầu cho linh hồn của Đại tướng được yên giấc ngàn thu, cùng non sông đất nước.
Các cơ quan của Sở chỉ huy chiến dịch nằm dọc ven một con suối nhỏ uốn lượn hình vòng cung ôm lấy chân núi Pú Đồn, trên một diện tích đất tự nhiên rộng khoảng 90km2 và được bố trí thành một hệ thống liên hoàn có hầm, hào, lán trại được bao bọc trước sau phù hợp với tốc độ làm việc khẩn trương của Bộ chỉ huy chiến dịch vừa đảm bảo yếu tố: bí mật, an toàn. Tại Sở chỉ huy chiến dịch đã diễn ra những cuộc đấu trí đấu lực đầy kịch tính của tập thể những khối óc sáng tạo của Bộ chỉ huy quân đội nhân dân Việt Nam với Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp tại Điện Biên Phủ. Cũng chính tại nơi này Đại tướng đã đưa ra những quyết sách quan trọng góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ vào chiều ngày 7/5/1954.
Sau đây xin mời quý khách đi tham quan thực tế Sở chỉ huy chiến dịch!
1. Trạm gác tiền tiêu
Nằm ngay cửa rừng là Trạm gác tiền tiêu có nhiệm vụ bảo vệ Sở chỉ huy ở tuyến ngoài cùng. Hằng ngày anh em trèo lên cây cao quan sát từ xa, theo dõi những động tĩnh từ bên ngoài, đồng thời kiểm soát người ra vào Sở chỉ huy để đảm bảo an toàn và giữ bí mật. Đơn vị chịu trách nhiệm ở đây là Trung đội 1, Đại đội cảnh vệ 425, Trung đoàn 144, (là tiền thân của Lữ đoàn 144 sau này vinh dự được về bảo vệ thành Hà Nội). Ngoài ra đơn vị cùng với 1 Trung đội công binh khác cũng vinh dự được xây dựng Sở chỉ huy chiến dịch. Thành phần của 2 đơn vị này hầu hết là người dân tộc Tày, Nùng được xét lý lịch rất kĩ và tuyệt đối trung kiên với cách mạng. Nhiệm vụ của đơn vị là thường xuyên đi xây dựng cơ sở cho Bộ Chính trị và Trung ương Đảng,  Sở chỉ huy các chiến dịch.
Trước mắt chúng ta chính là khe suối nhỏ với dòng nước trong mát đây là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt của toàn bộ Sở chỉ huy chiến dịch, dòng suối uốn lượn ôm lấy chân đỉnh núi Pú Đồn cao 1500m, vào mùa xuân hoa ban nở trắng rừng Mường Phăng, lại có sương mù bao phủ, những cành ban trắng lấp ló ẩn hiện phía sau làn sương sớm tạo nên một cảnh tượng sơn thủy hữu tình. Hạnh phúc lớn nhất đối với người cầm quân là được ở bên bộ đội ngay tại mặt trận”. Ngay chính những vị cố vấn Trung Quốc, các nhà văn, nhà báo phương Tây cũng phải thốt lên những lời khen ngợi dành cho khung cảnh nơi này. Xa xa là bản làng của đồng bào các dân tộc Thái , H’mông, Khơ Mú năm xưa đã che chở bảo vệ giữ bí mật tuyệt đối cho Sở chỉ huy chiến dịch.
2. Cơ quan thông tin
Tiếp sau Trạm gác tiền tiêu, cơ quan đầu tiên của Sở chỉ huy chiến dịch là cơ quan thông tin. Trong bất cứ chiến dịch nào, cơ quan thông tin cũng phải đi trước một bước để dõi theo bước hành quân của các chiến sĩ, đường ra chiến dịch lắm dốc nhiều đèo các chiến sĩ thông tin phải ôm máy vào lòng để tránh hỏng hóc, đảm bảo thông tin liên lạc giữa tiền phương và hậu phương, giữa Bộ chỉ huy chiến dịch và các đơn vị tham gia chiến dịch. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, các chiến sĩ thông tin phải trèo đèo, lội suối, băng rừng vượt qua bao khó khăn vất vả hoàn thành việc đo đạc, lập tọa độ các mục tiêu và nối mạng dây thông tin. Các chiến sĩ thông tin được huấn luyện nghiệp vụ kỹ càng và sử dụng thành thạo các loại máy móc, luôn phát huy trí thông minh sáng tạo, khắc phục sự cố kĩ thuật kịp thời, đảm bảo đồng thời 3 yếu tố: bí mật, nhanh chóng, chính xác. Thông tin chính xác thông suốt sẽ tránh được đổ máu hy sinh cho đồng đội và rút ngắn chặng đường gian khổ đi đến chiến thắng.
Trong ngôi lán của cơ quan thông tin được trang bị các loại máy móc, thiết bị thông tin hầu hết là chiến lợi phẩm ta thu được của địch từ những chiến dịch trước và ta đã biến chúng thành một thứ vũ khí sắc bén để tiêu diệt kẻ thù. Trong chiến dịch các loại máy vô tuyến, hữu tuyến hoạt động suốt ngày đêm đảm bảo cho thông tin liên lạc được thông suốt.
Bên cạnh là lán ngủ và hầm trú ẩn của điện báo viên, cũng giống như bao ngôi lán khác trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn, khí hậu khắc nghiệt với mùa đông giá lạnh nhiệt độ về đêm xuống thấp, các chiến sĩ nằm trên chiếc giường làm bằng tre rừng giải lớp cỏ gianh trên phủ vải dù cho đỡ lạnh.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, các cán bộ, chiến sĩ nghành Thông tin luôn nêu cao tinh thần không ngại khó, ngại khổ, luôn mưu trí, dũng cảm " vì mạch máu thông tin luôn vững chắc". Nhiều chiến sĩ đã không quản hy sinh thân mình để giữ vững liên lạc qua vị trí của mở vào cứ điểm, rất nhiều các chiến sĩ bộ đàm đã luôn bán sát các mũi xung kích dù phải chịu hy sinh, gian khổ khi làm nhiệm vụ. Tiêu biểu là tấm gương của Tiểu đội trưởng thông tin Chu Văn Mùi và đồng chí Đàm Minh Đức khi các đồng chí nhận lệnh di chuyển từ mặt trận phía Tây của Điện Biên Phủ về cứ điểm A1, đảm bảo thông tin liên lạc với Sở chỉ huy Trung đoàn bằng vô tuyến điện. Nằm trong vòng vây của địch suiits 2 ngày 2 đêm, trong điều kiện phải nhịn đói nhịn khát nhưng vẫn kiên trì bám máy vô tuyến BC 1.000 giũ liên lạc với cấp trên, gọi pháo binh ta bắn chặn, đồng thời kết hợp với bộ binh đanh lui nhiều đợt phản kích của binh và xe tăng địch.
Xin giới thiệu với quý khách. Xa xa là đồi Pu Ma Hoong, xưa kia là nơi đã đặt trụ sở làm việc của tòa soạn tiền phương của Báo Quân đội nhân dân Việt Nam, với hệ thống lán trại, hầm, hào, nhà công vụ, nhà in... Tại đây 29 trong tổng số 33 số báo đặc biệt đã được in ấn phát hành ngay tại chiến trường, tờ báo đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đối với cán bộ chiến sĩ  và là nguồn sức mạnh cổ vũ tinh thần cho các chiến sĩ hăng hái tham gia giết giặc lập công.
3. Lán và hầm làm việc của đồng chí Hoàng Đạo Thúy
Đồng chí Hoàng Đạo Thúy sinh năm 1900, mất năm 1994,  sinh ra tại phố Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Trước khi tham gia hoạt động cách mạng ông đã từng là giáo viên trong nhiều năm.  Năm 1940, đồng chí bắt đầu tham gia các phong trào cách mạng. Tháng 6 năm 1949, đồng chí Hoàng Đạo Thúy là Cục trưởng Cục thông tin liên lạc đầu tiên của nước ta khi cơ quan này được thành lập. Ngoài chiến dịch Điện Biên Phủ, ông chỉ huy công tác thông tin trong nhiều chiến dịch quan trọng khác.
Trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng chí Hoàng Đạo Thúy cùng với cán bộ chiến sĩ thông tin làm việc suốt ngày đêm đảm bảo thông tin được chính xác, thông suốt, an toàn, bí mật  từ Sở chỉ huy chiến dịch đến các Đại đoàn.
 
4. Bia di tích Sở chỉ huy chiến dịch
Trên tấm bia ghi lại mốc thời gian ngày 31/1/1954 Sở chỉ huy chiến dịch chuyển đến khu rừng này, đây là địa điểm thứ 3, cũng là điểm dừng chân cuối cùng trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch Điện Biên Phủ. Trước đó Sở chỉ huy chiến dịch đã đóng tại hang Thẩm Púa cách Tuần Giáo 15km trong thời gian 32 ngày (từ 17/12/1953 - 17/01/1954), sau đó là hang Huổi He, xã Nà Tấu cách Tuần Giáo 55km trong thời gian 13 ngày (18/01/1954 - 30/01/1954).
Ngày 31/1/1954, Sở chỉ huy chiến dịch chuyển vào khu rừng Mường Phăng, nơi đây cách lòng chảo Điện Biên Phủ 40km đường bộ và 17km đường chim bay, nhưng nếu đi tắt ngang qua những khu rừng thì chỉ chừng 18km. Người Pháp không thể ngờ Sở chỉ huy của quân đối phương có thể đóng gần họ như vậy, mọi nỗ lực nhằm phát hiện cơ sở bí mật quân đối phương bằng các máy bay trinh sát, máy bay chiến đấu đều thất bại. Đây là Sở chỉ huy tiền phương chính thức, là nơi làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bí thư Đảng ủy kiêm Chỉ huy trưởng mặt trận và Đảng ủy Bộ chỉ huy chiến dịch. Bằng sự kế thừa và phát huy nghệ thuật quân sự đánh giặc giữ nước và tài thao lược của Ban tham mưu chiến dịch, trong đó có sự đóng góp quan trọng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tại đây đã diễn ra những cuộc họp quan trọng để đưa ra những mệnh lệnh, chỉ thị có tính chất quyết định trong quá trình tấn công vào Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Vào những năm cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Pháp, dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ chỉ huy chiến dịch được toàn quyền quyết định mọi công việc diễn ra ở chiến trường Điện Biên Phủ và các chiến trường phối hợp trong nước và Đông Dương. Tại Sở chỉ huy chiến dịch ở Mường Phăng, Bộ chỉ huy chiến dịch đã chỉ đạo quân, dân ta làm hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.
Đỉnh núi Pú Hót phía sau núi Pú Đồn, cao khoảng 1.500m so với mực nước biển là nơi được chọn đặt đài quan sát của chiến dịch. Ngày đó đỉnh núi này còn rất hoang sơ chưa bao giờ có bước chân người đặt tới. Để lên tới đài quan sát phải đi hàng giờ đồng hồ, theo hướng nhà tác chiến, nhà hội trường đi lên hàng ngày các đồng chí trong ban tham mưu lên đó quan sát tình hình mặt trận. Trong đài quan sát có 1 chiếc mõ tre dùng để báo động khi có máy bay và cháy rừng. Tại đây, Tập đoàn cứ điểm đều nằm trong tầm kiểm soát của Bộ chỉ huy chiến dịch.
Trước đây tại khu vực xung quanh bia di tích còn có lán của Đại đội vệ binh và Ban quản lý hành chính.
5. Nhà tác chiến
Là nơi theo dõi diễn biến chiến sự giữa ta và địch trên chiến trường của Ban tác chiến và Ban quân báo, đồng thời là nơi giao ban hằng ngày của Bộ chỉ huy chiến dịch và các thủ trưởng cơ quan trong tổng hành dinh tiền phương như: Cơ quan chính trị, hậu cần, các quân binh chủng và cũng là nơi giao nhiệm vụ cho các đơn vị.
Ngôi nhà gồm 3 gian: Gian trong là nơi làm việc nghỉ ngơi của trực Ban tác chiến  với liên lạc viên kiêm công vụ, tại đây được bố trí có 2 chiếc giường tre và 1 chiếc bàn để máy điện thoại quay tay. Trên dãy bàn tre ở 2 gian ngoài có đèn và đồ dùng sinh hoạt, đây là nơi họp bàn kế hoạch tác chiến. Trên vách ngăn có treo các loại bản đồ, biểu đồ tùy theo từng buổi giao ban, có thêm các biểu đồ, bản đồ khác nhau.
Sau đợt tấn công thứ nhất trên trần nhà trước đây treo 2 tấm dù trắng lớn tỏa rộng, cửa sổ của nhà tác chiến ban ngày được kéo lên, ban đêm lại hạ xuống chống ánh sáng lọt ra ngoài. Phía sát tường có 1 chiếc tủ kẽm để đựng tài liệu.
6. Lán Ban cơ yếu
Hoạt động cơ yếu là một ngành khoa học kỹ thuật cơ mật đặc biệt thuộc lĩnh vực an ninh quốc gia, sử dụng kỹ thuật mật mã để bảo mật thông tin bí mật nhà nước.
Ban cơ yếu Sở chỉ huy chiến dịch đóng tại Mường Phăng gồm 12 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Chánh Cân phụ trách; từng Đại đoàn cũng có những Ban cơ yếu riêng. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ có hơn 100 cán bộ. Hệ thống liên lạc được triển khai gồm các mạng giữa Bộ chỉ huy chiến dịch liên lạc với Trung ương Đảng qua phòng cơ yếu văn phòng trung ương; liên lạc với Bộ tư lệnh qua phòng cơ yếu Bộ tổng tham mưu; liên lạc với các đơn vị tại mặt trận với liên khu V, Trung Lào, Hạ Lào và Nam Bộ.
Các tổ chức cơ yếu từ Ban cơ yếu Bộ chỉ huy chiến dịch đến cơ yếu các Trung đoàn đều tìm mọi cách tổ chức việc mã dịch, truyền đạt điện nhanh nhất, phân công hợp lý, nắm chắc các mạng liên lạc, hiệp đồng chặt chẽ với các mạng thông tin để theo dõi hành trình điện nên đã đảm bảo truyền đạt điện được chính xác, kịp thời đáp ứng yêu cầu chỉ huy. Cùng với việc phục vụ Bộ chỉ huy chiến dịch với các đơn vị trực tiếp tham gia chiến dịch, việc giữ vững liên lạc mật mã với các cơ quan lãnh đạo Đảng và Bộ tổng tư lệnh, với các chiến trường phối hợp là điều có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Hằng ngày thông qua Phòng mật mã Bộ tổng tham mưu ở hậu phương, Ban mật mã chiến dịch đã mã dịch đều đặn các bức điện về ý kiến chỉ đạo, thông báo của Bộ chính trị, Trung ương Đảng đối với quá trình chỉ huy, chỉ đạo chiến dịch, đồng thời cũng truyền đạt đi về những bức điện của Tổng tư lệnh chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ cho các chiến trường đẩy mạnh phối hợp; nhận về những tin thắng lợi của quân và dân ta khắp nơi trên cả nước.
7. Hội trường
Là nơi diễn ra các hội nghị của cán bộ cấp trung đoàn và tương đương trở lên do Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch triệu tập. Tại nhà hội trường đã diễn ra các hội nghị và các cuộc họp quan trọng có liên quan đến sự thành bại của chiến dịch Điện Biên Phủ. Đây cũng là nơi làm việc hằng ngày của các sỹ quan tham mưu chỉ đạo 2 nhiệm vụ trọng tâm là: mở đường, kéo pháo vào trận địa và xây dựng trận địa tấn công và bao vây. Ngoài ra còn là nơi dõi theo tình hình chiến sự giữa ta và địch, diễn biến các trận đánh ở Điện Biên Phủ và các chiến trường phối hợp.
15h ngày 7/5/1954 cơ quan tham mưu đã chuyển lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch đến các Đại đoàn trên toàn mặt trận chuyển sang tổng công kích trước giờ quyết định: “ Phải đánh thẳng vào Sở chỉ huy, phải bao vây chặt không cho De – Castries hay bất cứ tên địch nào được chạy thoát”.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ thị cho Ban tuyên huấn thảo gấp một bản thông cáo đặc biệt của Bộ tổng tư lệnh, sau đó Đại tướng sửa chữa bổ sung, duyệt nội dung và chuyển ngay về Đài tiếng nói Việt Nam phát đi ngay trong đêm để ngày mai tin chiến thắng Điện Biên Phủ bay nhanh tới mọi miền đất nước và trên toàn thế giới.
Cơ quan tham mưu chuyển bức điện của Đảng ủy mặt trận báo cáo với Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh về tin quân ta đã giải phóng hoàn toàn Điện Biên Phủ.
Bài hát “Chiến thắng Điện Biên” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận – lúc đó nhạc sĩ là tổ trưởng phụ trách cung đường bản Phăng vào Sở chỉ huy Mường Phăng cùng các chiến sĩ văn công tay cuốc, tay chòong mở đường thắng lợi. Ban ngày nhạc sĩ vẫn cầm cuốc đất mà trong đầu không ngừng suy nghĩ về những ca từ, giai điệu cho bài ca chiến thắng. Và chỉ trong 1 đêm nhạc sĩ đã viết bài hát Chiến thắng bên bếp lửa đỏ ngay trong khu rừng Mường Phăng. Trong lễ duyệt binh mừng chiến thắng 13/5/1954 tại Mường Phăng, đoàn văn công đã hát vang bài ca chiến thắng. Bài hát đã trở thành giai điệu đi cùng năm tháng và sống mãi trong lòng các thế hệ người Việt Nam dù Nhạc sĩ đã đi xa.
 
8. Nhà ăn
Gần hội trường đi vào phía trong là nhà ăn tập thể của các cán bộ về dự họp tại Sở chỉ huy. Tại đây ngày 8/5/1954, sau khi tiêu diệt toàn bộ Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bắt sống tướng De - Castries, cơ quan hậu cần tổ chức bữa liên hoan ăn mừng chiến thắng. Thực đơn bữa ăn ngày đó thật giản dị chỉ có bánh cuốn, rượu vang, thịt trâu và chiến lợi phẩm. Đại tướng đã nâng ly chúc mừng thắng lợi của quân, dân và đồng bào địa phương. Đây cũng chính là thắng lợi chung của cả dân tộc Việt Nam.
9. Bếp Hoàng Cầm
10. Các chiến sỹ anh nuôi đã xây dựng và sử dụng bếp Hoàng Cầm để có những bữa cơm dẻo, canh ngọt lại đảm bảo cho sức khỏe của Bộ chỉ huy chiến dịch và các cán bộ cấp trung đoàn trở lên về họp trong suốt thời kỳ Bộ chỉ huy đóng quân ở đây.
Bếp Hoàng Cầm là sáng kiến của một chiến sỹ nuôi quân từ chiến dịch Hòa Bình năm 1951. Bếp mang chính tên tác giả Hoàng Cầm, được xây dựng ngay gần Sở chỉ huy chiến dịch và các đơn vị chiến đấu trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Bếp Hoàng Cầm được cấu trúc gồm  những rãnh thông khói phía sau, bên trên có phủ lớp đất mỏng và lá cây tươi, thường xuyên được tưới nước để giữ ẩm. Nhờ có loại bếp này mà khói không bốc lên cao, có thể đun nấu cả ban ngày lẫn ban đêm trong điều kiện có máy bay trinh sát. Bếp Hoàng Cầm đã theo chân bộ đội trên đường hành quân qua nhiều chiến dịch, trong đó có chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngày nay, bếp Hoàng Cầm vẫn nằm trong tầm chiến lược của Quân đội ta cùng theo chân bộ đội trong các cuộc hành quân bảo vệ Tổ quốc.
10. Lán làm việc của Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái
Đoàn chúng ta đang có mặt trong ngôi lán làm việc của đồng chí Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, lán có diện tích 18m2, làm bằng nguyên vật liệu khai thác ngay tại khu rừng này. Lán có 2 gian, gian trong là nơi nghỉ ngơi và làm việc của đồng chí cần vụ,  gian ngoài là nơi nghỉ ngơi và làm việc của  Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái. Nhìn bề ngoài ngôi lán đơn sơ giản dị, tại đây được kê 1 bàn làm việc và 1 chiếc giường, được ghép từ tre rừng. Thời tiết ở đây quanh năm khá lạnh, cũng như đại bộ phận cán bộ của cơ quan chỉ huy, đồng chí cũng chỉ nghỉ ngơi trên chiếc giường tre mộc mạc được giải lớp cỏ gianh phủ lớp dù để làm đệm chống rét. Trên giường có một chiếc chăn dạ, một chăn bông và một màn tuyn Trung Quốc.
Tiểu sử của đông chí Đồng chí Hoàng Văn Thái: tên thật là Hoàng Văn Xiêm; sinh năm 1915 mất năm 1986, quê ở xã Tây An, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Đồng chí tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1936, nhập ngũ năm 1944, từ năm 1945 - 1953 là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, năm 1948 đồng chí được phong quân hàm Thiếu tướng và là một trong 10 vị tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông đã từng là Tham mưu trưởng các chiến dịch như chiến dịch Hòa Bình 1951 và chiến dịch  Điện Biên Phủ năm 1954. Ông cũng là một trong những người sáng lập ra Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân sau này).Sau chiến dịch Điện Biên Phủ trên cương vị của mình, đồng chí Hoàng Văn Thái đã góp phần làm nên những chiến thắng quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đã cùng với đồng chí cố vấn Mai Gia Sinh triển khai việc làm đường, xây dựng trận địa pháo theo kinh nghiệm của quân giải phóng Trung Quốc và Triều Tiên. Đào thực nghiệm ở Nà Tấu, Mường Phăng và theo dõi công việc đào trận địa chiến hào xung quanh Điện Biên Phủ. Ngày 26/2/1954, Tham mưu Trưởng Hoàng Văn Thái đã ký bản chỉ thị: “Hướng dẫn các đơn vị cách thức xây dựng trận địa tấn công, trận địa chiến hào xung quanh Điện Biên Phủ”.
Trong quá trình diễn ra chiến sự, đồng chí Hoàng Văn Thái đã tham mưu với Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị các đơn vị thực hiện phương án đánh lấn, bắn tỉa; giải quyết những khó khăn, đôn đốc các đơn vị thực hiện mọi mặt công tác ở chiến trường, chỉ đạo sát sao từng đợt chiến đấu, xiết chặt vòng vây tiêu diệt quân Pháp ở Điện Biên Phủ. Trước đây bố trí quanh chân đồi, hai bên lán tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, gồm 10 lán của các cơ quan tác chiến khác.
* Ban tác chiến: Trưởng Ban - Trần Văn;  Phó Ban - Đỗ Đức Kiên.
* Ban quân báo: Trưởng Ban - Lê Trọng Nghĩa; Phó Ban - Cao Pha (cơ quan đã chỉ đạo các chíên sỹ lấy được tấm Bản đồ của địch tỉ lệ 1/25.000.
* Quân lực (Cung cấp chiến dịch): Chủ nhiệm hậu cần - Đặng Kim Giang; Phó chủ nhiệm - Nguyễn Thanh Bình; Tham mưu - Nguyễn Ngọc Minh.
* Ban quân nhu;
* Ban quân y;
* Ban vận tải;
* Ban quân giới.
Các Ban được bố trí trong những dãy lán; bên trong lán có sạp tre và bàn làm việc dài. Tại đây các cơ quan đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng trận địa tấn công bao vây; chuẩn bị cho bộ đội về sức khỏe, quân số chiến đấu; lương thực đạn dược, đường xá vận tải, dân công, nghiên cứu lại tuyến cung cấp theo yêu cầu, nhiệm vụ mới.; phân tuyến vận chuyển từ hậu phương ra tuyền tuyến, bố trí kế hoạch bảo vệ, sửa chữa đường; tiếp tế đạn dược lương thực tận đơn vị chiến đấu.
11. Hầm xuyên sơn
Trước khi Sở chỉ huy chiến dịch chuyển tới khu rừng này Đại đội cảnh vệ 425 do đồng chí Đỗ Hải phụ trách và Trung đội công binh được giao nhiệm vụ đào đường hầm ngầm. Mục tiêu là đào một đường hầm chắc chắn, tránh được đạn, máy bay trinh sát của địch và thông giữa hai lán làm việc của đồng chí Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp và Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái.
Kết thúc đợt tấn công thứ nhất, ta bắt đầu tiến hành đào hầm. Chỉ có đồng chí Đinh Văn Điền là thợ mỏ và đồng chí Thành Xuân Thi là 2 người có nhiều kinh nghiệm trong việc đào hầm, còn các chiến sĩ khác hầu hết chưa từng có kinh nghiệm. Trong điều kiện không có la bàn, không có thước đo, các chiến sĩ đã phải sử dụng dây rừng làm thước. Đại đội cảnh vệ và trung đoàn công binh với hơn 50 người đã thay nhau đào liên tục từ sáng sớm cho đến lúc mặt trời lặn trong không khí khẩn trương và yêu cầu cấp bách của chiến dịch. Đường hầm được đào từ hai hướng Đông và Tây, thông nhau ở giữa lòng đồi. Càng đào vào sâu bên trong càng thiếu ánh sáng và đặc biệt việc định hướng để thông nhau là vô cùng khó khăn. Trong điều kiện không có la bàn, các chiến sĩ đã phải áp tai vào vách đất để nghe âm thanh dội về. Nhưng phương pháp này chỉ có thể áp dụng cách nhau khoảng 10m, còn xa hơn nữa  thì việc định hướng rât khó khăn  không tránh khỏi việc đào chệch hướng. Trong quá trình đào hầm, cứ 5m các chiến sĩ lại phải chống cây rừng và kê đòn tay đỡ trần hầm, ngoài ra còn phải đào thêm các hốc đặt đèn dầu, cứ khoảng 25 đến 40 phút lại phải thay ca một lần. Chỉ với những vật dụng thô sơ như cuốc, xẻng nhưng bằng trí thông minh, sự sáng tạo và lòng quyết tâm sắt đá, các chiến sĩ đã khoét thông đường hầm có chiều dài 69m, cao 1,7m, rộng từ 1m đến 3m. Trong đường hầm  này có bố trí 5 ngách hầm hàm ếch để đặt máy thông tin, trong đó có 1 máy thông tin nối từ sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ với Bộ chính trị Trung ương Đảng, Hồ Chủ Tịch và cơ quan chi viện tiền phương; 4 máy còn lại nối với các Đại đoàn chiến đấu ngoài mặt trận và nhận lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch. Tại vị trí đào chệch hướng các chiến sĩ  sửa sang thành phòng họp có diện tích 18m2 có lỗ thông hơi. Đường hầm được đào trong vòng 28 ngày đêm  từ ngày 19/3/1954 đến ngày 15/4/1954 đường hầm đã được hoàn thành và đưa vào sử dụng. Đây còn là nơi nghỉ ngơi, làm việc trong những lúc cần thiết góp phần đảm bảo sự an toàn, bí mật cho Bộ chỉ huy chiến dịch.
  12. Lán Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Đoàn chúng ta đang có mặt trong ngôi lán làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với diện tích 18m2, làm bằng nguyên vật liệu khai thác ngay tại khu rừng này. Tại ngôi lán đơn sơ giữa rừng Mường Phăng, rất nhiều đêm dưới ngọn đèn dầu Đại tướng đã thao thức trăn trở lắng nghe từng mẩu tin từ mặt trận báo về, để tìm ra cách đánh mưu trí, linh hoạt giành thắng lợi quyết định cho trận đánh.
 Lán có 2 gian, gian trong là nơi nghỉ ngơi và làm việc của đồng chí cần vụ, người dân tộc Tày tên là Chúng Sính,  người đã giúp việc và chăm lo sức khỏe cho Đại tướng suốt mùa chiến dịch. Sát cửa sổ gian trong, trên chiếc bàn tre hàng ngày có một phích nước và một bộ ấm chén Trung Quốc có in chữ “Việt - Trung - Xô đoàn kết”, có hình 3 lá cờ: Việt Nam, Liên Xô, Trung Quốc. Gian ngoài là nơi nghỉ ngơi và làm việc của Đại tướng. Nhìn bề ngoài ngôi lán đơn sơ giản dị, không ai nghĩ  rằng  đây lại là ngôi lán của vị chỉ huy tối cao. Tại đây được kê 1 bàn làm việc và 1 chiếc giường, được ghép từ tre rừng. Thời tiết ở đây quanh năm khá lạnh, cũng như đại bộ phận cán bộ của cơ quan chỉ huy, Đại tướng cũng nằm cỏ gianh phủ lớp dù để làm đệm. Trên giường có một chiếc chăn dạ, một chăn bông và một màn tuyn Trung Quốc. Phía trên vách liếp ngôi lán có treo các loại bản đồ:
-             Bản đồ hình thái chiến trường Đông Dương, Đông xuân 1953 - 1954 (vách sau).
-             Bản đồ theo dõi vận chuyển gạo (vách trước).
Trên chiếc bàn tre mộc mạc hàng ngày Đại tướng  trải rộng tấm bản đồ hình thái chiến sự giữa ta và địch. Bên cạnh là chiếc điện thoại quay tay, hàng ngày, hàng giờ Đại tướng theo dõi, nắm tình hình chiến sự ngoài mặt trận.
Trong hồi ức của mình, Đại tướng có viết: “Mỗi lần đi chiến dịch, tôi lại trở về “ngôi nhà” quen thuộc. Nó cũng giống như phần lớn những ngôi nhà của các cơ quan ở Việt Bắc trong kháng chiến, chỉ khác là ở mặt trận nó được thu nhỏ tới mức tối thiểu, đúng hơn là một cái lán.... Không biết ai là người đầu tiên nghĩ ra kiểu nhà này. Nó đã ổn định tới mức không cần có sự cải tiến nào”.
Tại Sở chỉ huy, trong những ngày đầu xuân Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận được điện và thư trả lời của Bác và Trung ương nhất trí cho rằng “quyết định thay đổi cách đánh từ “Đánh nhanh, thắng nhanh” sang “Đánh chắc, tiến chắc” là hoàn toàn đúng. Trung ương Đảng và Chính phủ sẽ động viên toàn dân dốc sức chi viện cho Điện Biên Phủ để giành toàn thắng. Hội đồng cung cấp Trung ương đã được thành lập do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng trực tiếp làm Chủ tịch để chỉ đạo các địa phương huy động nhân lực,vật lực phục vụ tiền tuyến”. Quyết định đã thay đổi
Về tiểu sử Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911, tại vùng quê “gió Lào, cát trắng”  thuộc huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước. Hàng loạt các phong trào đấu tranh, các tấm gương “vì nghĩa quên thân” trong thời kỳ này qua những câu chuyện kể của cha mẹ đã hun đúc nên lòng yêu nước, ý chí giải phóng dân tộc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ nhỏ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp tham gia vào nhiều tổ chức Đảng, ở nhiều vị trí khác nhau góp phần vào sự phát triển của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ này. Ngày 22/12/1944, Đại tướng được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đây là tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày nay. Sau Cách mạng tháng Tám, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã giữ nhiều cương vị như: Bộ trưởng Bộ nội vụ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ lâm thời, Tổng chỉ huy Quân đội quốc giadân quân tự vệ.
Trong suốt 9 năm kháng chiến trường kì, dấu ấn nổi bật của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là hai quyết định lớn đặc biệt có ý nghĩa sống còn: đó chính là quyết định thay đổi mục tiêu tiến công từ Cao Bằng xuống Đông Khê trong chiến dịch Biên Giới năm 1950 và quyết định thay đổi phương châm tác chiến chiến dịch từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Từ năm 1954 -1976, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục giữ cương vị Ủy viên Bộ chính trị - Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ trưởng Quốc phòng. Ông còn là Phó Thủ tướng Chính phủ, sau là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (từ năm 1955 đến năm 1991). Năm 1991, Đại tướng nghỉ hưu ở tuổi 80.
Tháng 8 năm 2009 Đại tướng nhập viện tại bệnh viện Quân đội 108 sau hơn 4 năm dưỡng bệnh, được sự quan tâm chăm sóc cứu chữa tận tình của tập thể y bác sỹ bệnh viện nhưng do tuổi cao sức yếu trái tim của vị Đại tướng tài ba lỗi lạc đã ngừng đập vào hồi 18h 9 phút ngày 4/10/2013. Tin Đại tướng qua đời đã khiến cho triệu triệu trái tim của người dân trên đất nước Việt Nam nói chung và Nhân dân Mường Phăng nói riêng đau sót tiếc thương. Sự ra đi của Đại tướng là mất mát to lớn đối với toàn thể dân tộc Việt Nam. Tên tuổi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp mãi mãi ghi dấu trong lịch sử dân tộc.
Chiến thắng Điện Biên Phủ là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong đó nổi bật là sự thay đổi phương châm tác chiến của Bộ chỉ huy chiến dịch, đứng đầu là vị Tổng tư lệnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã góp phần vào thắng lợi vĩ đại của trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ. Thắng lợi của chiến dịch càng khẳng định việc thay đổi phương châm tác chiến từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc" là một quyết định vô cùng sáng suốt, quan trọng, quyết định đó đã làm thay đổi lịch sử, thay đổi cục diện của cuộc chiến tranh.  Thực tế lịch sử đã chứng minh đó là nhân tố quyết định dẫn tới thắng lợi của chiến dịch, chấm dứt giấc mộng thực dân của Pháp tại Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung, là tiền đề cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này. Hội đồng khoa học Hoàng gia Anh đã bình chọn ông là 1 trong 10 vị tướng tài của thế giới.
13. Lán của đoàn sỹ quan liên lạc
Bên trái khu vực trung tâm Sở chỉ huy, nằm sát chân núi là lán của đoàn sỹ quan liên lạc. Theo hồi ức của dồng chí Hoàng Minh Phương - nguyên sỹ quan liên lạc giữa Đại Tướng Võ Nguyên Giáp với đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc thì đây là nơi làm việc của các sỹ quan liên lạc. Tại đây các sỹ quan liên lạc đã làm việc rất nghiêm túc để các cuộc trao đổi, thảo luận, các quyết sách của Bộ chỉ huy chiến dịch và đoàn cố vấn quân sự được triển khai một cách hiệu quả nhất góp phần giành chiến thắng.
14. Hầm và lán của cơ quan cố vấn Trung Quốc
 Theo sự thỏa thuận của Đảng cộng sản hai nước, tháng 8/1950, Đảng cộng sản Trung Quốc đã cử sang Việt Nam 79 vị cố vấn do đồng chí Vi Quốc Thanh làm trưởng đoàn, đồng chí Mai Gia Sinh là phó đoàn, giúp Việt Nam về quân sự, kinh nghiệm tổ chức chiến đấu. Đoàn cố vấn có bộ phận đóng cạnh Bộ tổng tư lệnh quân đội ta, ngoài ra có những tổ cố vấn được bố trí ở các Đại đoàn chủ lực như: 
- Đại đoàn 308 có đồng chí: Vu Bội Huyết.
- Đại đoàn 316 có đồng chí:  Dư Thành Công.
- Đại đoàn 312 có đồng chí: Đồng Nhân Kỷ.
- Đại đoàn 351 có đồng chí:  Mã Đại Vĩ.
Tháng 9 năm 1953 tình bao Trung Quốc đã có được trong tay bản kế hoạch Navarre giúp Việt Nam nắm được âm mưu của địch và đưa ra đề án hoạt động trong Đông xuân 1953 - 1954.
Trong Sở chỉ huy chiến dịch Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thường xuyên có những cuộc trao đổi với đồng chí Vi Quốc Thanh - trưởng đoàn cố vấn và đồng chí Mai Gia Sinh - phó đoàn cố vấn Trung Quốc. Để đưa ra những quyết định sáng suốt, giải quyết những vấn đề khó khăn trong toàn chiến dịch.
Căn hầm có chiều dài 25m đào sâu vào vách núi có 2 cửa ra vào, mái hình vòm. Mặc dù căn hầm không có hệ thống chống đỡ nhưng đã trải qua hơn nửa thế kỷ hầu như không bị sập. Giữa đường hầm là một phòng nhỏ có bàn ghế để làm việc, cách vài mét có khoét một lỗ thông hơi và để sẵn 1 chiếc thang thoát hiểm lên đỉnh đồi. Trong đường hầm có 3 hầm ếch để tránh đạn bắn thẳng. Khi có máy bay và chiến sự cơ quan cố vấn mới rút vào làm việc trong đường hầm.
Lán làm việc của đồng chí Vi Quốc Thanh và Mai Gia Sinh có cấu trúc tương tự lán của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trong lán cũng có giường nằm, bàn làm việc được làm bằng những đoạn gỗ nhỏ chôn thẳng xuống đất, giát giường và mặt bàn đều là những thanh tre nhỏ ken lại với nhau.Tại ngôi lán này các  đồng chí cố vấn Trung Quốc đã giới thiệu và hướng dẫn chúng ta kinh nghiệm chiến đấu trong chiến dịch  Hoài Hải. Giải phóng quân đã đào những  đường hào cho pháo và ô tô hoạt động dưới những trận phản kích dữ dội của địch. Các đồng chí còn hướng dẫn thêm kinh  nghiệm chiến đấu trong đường hầm ở Triều Tiên. Quân chí nguyện Trung Quốc và quân đội Triều Tiên đã kiến thiết những đường hầm trong lòng núi để tránh những trận phản kích của địch.
15. Lán làm việc của đồng chí Lê Liêm - Chủ nhiệm chính trị
Giống lán của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bên cạnh là một đường hầm đào sâu vào lòng núi 10m có 1 cửa ra vào. Đoạn cuối đường hầm được mở rộng để kê bàn ghế làm việc.
Bên cạnh lán của đồng chí Lê Liêm trước đây còn có lán của đồng chí Lê Quang Đạo - Phó chủ nhiệm chính trị; ngoài ra còn một số lán của các cơ quan khác như:
Ban tuyên huấn: Trưởng ban  Hoàng Xuân Tùy;
Ban địch vận: Trưởng ban Phan Kiên;
Ban bảo vệ: Trưởng ban Phạm Kiệt.
Các đồng chí phái viên chính trị trong suốt chiến dịch đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giáo dục tinh thần quyết chiến quyết thắng với bộ đội và dân công. Dưới sự chỉ đạo của cơ quan chính trị, tờ báo Quân đội nhân dân được phát hành 3 ngày 1 số được tăng lên 2 ngày 1 số rồi 1 ngày 1 số theo diễn biến chiến sự dưới lòng chảo), đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của các chiến sỹ ta trong điều kiện giá rét, trong mưa bom bão đạn quân thù ngoài mặt trận. Các phóng viên mặt trận và các văn, nghệ sỹ đã không quản khó khăn, gian khổ lên đường đi phục vụ chiến dịch, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch.
Công tác chính trị đã được triển khai một cách sâu rộng trong toàn quân. Trước Tập đoàn cứ điểm mạnh chưa từng có ở Đông Dương,chúng ta đã xây dựng cho bộ đội một quyết tâm chiến đấu rất cao. Cán bộ chiến sỹ đã thấy được chỗ mạnh chỗ yếu của địch, những điều kiện tất thắng của ta. Ý nghĩa to lớn của chiến dịch đã thấm nhuần sâu sắc tới từng cán bộ chiến sỹ"tiêu diệt Tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của địch,đập tan kế hoạch Nava, đánh bại âm mưu kéo dài chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp - Mỹ, mở ra một cục diện mới cho kháng chiến".  Những khẩu hiệu của chiến dịch đã được triển khai tới từng đơn vị ngoài mặt trận và đã trở thành niềm quyết tâm của mọi người:
- Tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ!
- Địch cố thủ,kiên quyết đánh!
- Địch bỏ chạy, kiên quyết truy!
- Địch tăng cường, kiên quyết diệt!...
Qua những đợt triển khai học tập chính trị đã giúp cho mỗi cán bộ chiến sỹ thấm nhuần sâu sắc ý nghĩa to lớn của chiến dịch. Đảm bảo việc thực hiện tuyệt đối, chính xác phương châm "Đánh chắc, tiến chắc" mà Bộ chỉ huy chiến dịch đã đề ra, trên cơ sở phân tích tình hình giữa ta và địch trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954.
Tại Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ đã diễn ra đám cưới của đồng chí Hoàng Xuân Tùy - Tổng biên tập báo Quân đội Nhân dân và Song Ninh - cô văn công của Tổng cục chính trị diễn ra vào ngày 2/2/1954 khi mùa hoa ban nở rộ khắp núi rừng, mùa xuân đang khoe sắc, tình yêu của hai người được đơm hoa kết trái từ chính khu rừng Mường Phăng. Đám cưới được tổ chức thật giản dị chỉ vẻn vẹn có xôi nếp, bánh trưng, kẹo, bánh được chuyển từ hậu phương lên  chỉ bấy nhiêu thôi nhưng vẫn thật đầm ấm, thấm đẫm tình đồng chí, đồng đội và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đứng ra làm chủ hôn cho đám cưới đặc biệt này. Đám cưới diễn ra chưa được bao lâu tuần trăng mật chưa trọn vẹn thì cô văn công lại nhận nhiệm vụ mới mang lời ca tiếng ra mặt trận phục vụ cho chiến sĩ. Họ đã sống những năm tháng hào hùng qua hai cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc. Hòa bình lập lại dù chưa một lần được trở lại thăm mảnh đất Mường Phăng, nhưng sâu thẳm trong tâm trí của hai người vẫn mong muốn có ngày trở lại. Hiện nay họ vẫn sống bên nhau hạnh phúc tại một căn hộ nhỏ tại thành phố mang tên Bác.
16. Bãi duyệt binh mừng chiến thắng.
Nằm cách Sở chỉ huy chiến dịch 300m về phía Đông Bắc là nơi tổ chức lễ duyệt binh mừng chiến thắng vào ngày 13/5/1954. Chủ trương của Bộ chỉ huy chiến dịch sẽ tổ chức thật oai nghiêm và hùng tráng với sự tham gia của đại diện tất cả các đơn vị tham gia chiến dịch.
- Lá Quốc kỳ được kéo lên bởi 2 đồng chí Đại đội trưởng có thành tích xuất sắc là Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật (đã chỉ huy bắt sống tướng De Castries 07/05/1954) và Đại đội trưởng Lạm Văn Kiên thuộc đơn vị Phòng không 818 (đơn vị hạ nhiều máy bay nhất). Khi lá Quốc kỳ được kéo lên Đại đội trọng pháo bắn 4 loạt đại bác, tiếp đó Đại đội pháo cao xạ bắn điểm xạ liên tục cho đến khi cờ kéo lên tới đỉnh mới kết thúc. (Ta đã làm 20 đầu đạn gỗ để đảm bảo an toàn, tháo bỏ đầu đạn thật, lắp khớp ống thuốc phóng).
- Tiếp đó Đại tướng duyệt các đơn vị và lễ duyệt binh được cử hành.
- Sau lễ duyệt binh Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Trung ương Đảng và Hồ Chủ Tịch tuyên dương công trạng các đơn vị trong toàn quân và tỏ lòng cảm ơn đồng bào hậu phương đã chi viện cho tiền tuyến đánh giặc, đặc biệt là sự giúp đỡ của các dân tộc Tây Bắc và các nước anh em bè bạn.
Đại tướng trao cờ "Quyết chiến, Quyết thắng" của Hồ Chủ Tịch cho Đại đoàn 312 là đơn vị lập công đầu bắt sống tướng De Castries. Đồng chí Đàm Quang Trung - Đại đoàn phó Đại đoàn 312 thay mặt Đại đoàn lên nhận cờ. Đại tướng giao nhiệm vụ cho các đơn vị sắp tới về giải phóng thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng. Đó là cục diện chiến trường năm 1954 đối với toàn quân.
Năm 2009, nhân kỉ niệm 55 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ tại khu vực bãi duyệt binh ăn mừng chiến thắng năm xưa đã xây dựng công viên chiến thắng và đặt ở đây một cụm tượng đài bằng đá của nhà điêu khắc Trịnh Thế Hội. Cụm tượng được ghép từ 102 khối đá,  cao 9,8m, dài 21m, rộng 3m, bệ cao 1,2m; cụm tượng gồm 25 nhân vật và 6 lá cờ trong đó có  5 lá cờ tượng trưng cho 5 Đại đoàn tham gia chiến dịch và một lá cờ có dòng chứ "Quyết chiến, Quyết thắng". Ở chính giữa cụm tượng là hình tượng Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Trung ương Đảng và Hồ Chủ Tịch đọc thư chúc mừng, khen ngợi các lực lượng tham gia chiến dịch.



 
 

Tác giả bài viết: BẢO TÀNG CHIẾN THẮNG LS ĐBP

Nguồn tin: BẢO TÀNG CHIẾN THẮNG LS ĐBP

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Danh mục khách sạn - Nhà nghỉ - Bản văn hóa

Khách sạn Bảo An
Khách sạn Bảo An
Khách sạn Bảo An
Giá: Liên hệ
Him Lam Resort
Him Lam Resort
Him Lam Resort
Giá: Liên hệ
Khách sạn Mường Phăng
Khách sạn Mường Phăng
Khách sạn Mường Phăng
Giá: Liên hệ
Nhà nghỉ Bình Minh
Nhà nghỉ Bình Minh
Nhà nghỉ Bình Minh
Giá: Liên hệ
Nhà Nghỉ Tuấn Minh
Nhà Nghỉ Tuấn Minh
Nhà Nghỉ Tuấn Minh
Giá: Liên hệ
Khách sạn Hải Vân
Khách sạn Hải Vân
Khách sạn Hải Vân
Giá: Liên hệ
Khách sạn Nậm Rốm
Khách sạn Nậm Rốm
Khách sạn Nậm Rốm
Giá: Liên hệ
Nhà Nghỉ Hoa Ban
Nhà Nghỉ Hoa Ban
Nhà Nghỉ Hoa Ban
Giá: Liên hệ
Khách sạn Mường Thanh
Khách sạn Mường Thanh
Khách sạn Mường Thanh
Giá: Liên hệ